Phát biểu khai mạc Diễn đàn, TS. Nguyễn Đăng Khang - Phó Tổng Biên tập Báo Đại đoàn kết cho biết, ngày 20/8/2025, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 70-NQ/TW về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Nghị quyết khẳng định quan điểm xuyên suốt: phát triển năng lượng phải gắn với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội, an sinh xã hội, quốc phòng và an ninh quốc gia.
"Với tầm nhìn đến năm 2045, Nghị quyết đặt mục tiêu xây dựng hệ thống năng lượng đồng bộ, hiện đại, thị trường năng lượng cạnh tranh, minh bạch, sử dụng hiệu quả tài nguyên, giảm phát thải khí nhà kính và tăng cường kết nối khu vực, quốc tế. Đặc biệt, Nghị quyết xác định rõ vai trò của năng lượng sạch, trong đó có khí thiên nhiên hóa lỏng - LNG, như một trụ cột quan trọng trong bảo đảm an ninh năng lượng và thúc đẩy chuyển dịch năng lượng" – TS. Nguyễn Đăng Khang nhấn mạnh.
Theo Phó Tổng Biên tập Báo Đại đoàn kết, thông qua các tham luận, báo cáo chuyên đề của những chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực chính sách, năng lượng và thị trường khí, Diễn đàn không chỉ cung cấp góc nhìn lý luận mà còn gợi mở nhiều vấn đề thực tiễn như: phát triển hạ tầng và logistics LNG, sử dụng LNG trong sản xuất điện và công nghiệp, kết nối thị trường trong nước với thị trường quốc tế, hướng tới thực hiện cam kết phát thải ròng bằng “0” của Chính phủ.
Tham luận tại Diễn đàn, TS. Nguyễn Minh Thảo – Phó Trưởng Ban Phát triển Doanh nghiệp và Môi trường Kinh doanh (Viện Chiến lược và Chính sách Kinh tế – Tài chính, Bộ Tài chính) cho biết, thời gian qua Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách quan trọng nhằm hỗ trợ doanh nghiệp khí Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh và hội nhập quốc tế.
Nếu trước đây việc sửa đổi, hoàn thiện pháp luật thường có độ trễ, thì hiện nay Chính phủ đã chủ động hơn trong ban hành các nghị quyết kịp thời để tháo gỡ vướng mắc, tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho doanh nghiệp, đặc biệt trong lĩnh vực năng lượng và khí. Hệ thống chính sách vì vậy ngày càng đồng bộ, bám sát yêu cầu phát triển và chuyển dịch năng lượng.
Một trụ cột quan trọng là Nghị quyết 70-NQ/TW về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, nhấn mạnh vai trò nền tảng của an ninh năng lượng đối với phát triển bền vững, khuyến khích khu vực tư nhân tham gia bình đẳng vào các dự án năng lượng và thúc đẩy phát triển điện khí phù hợp xu hướng giảm phát thải. Trên cơ sở đó, nhiều giải pháp được triển khai như tháo gỡ điểm nghẽn thể chế, ưu tiên tín dụng, cải cách mạnh thủ tục hành chính và xây dựng các trung tâm công nghiệp năng lượng tích hợp, tạo điều kiện cho doanh nghiệp khí tiếp cận vốn, mở rộng đầu tư và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng.
Để các chính sách thực sự phát huy hiệu quả, TS. Nguyễn Minh Thảo cho rằng, cần đẩy nhanh quá trình thể chế hóa các quan điểm, định hướng đã được nêu trong các nghị quyết của Bộ Chính trị, bảo đảm tính đồng bộ và khả thi. Việc hoàn thiện Luật Dầu khí (sửa đổi), đơn giản hóa thủ tục, giảm chi phí tuân thủ và có chính sách ưu đãi phù hợp nhằm khuyến khích doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn vào dịch vụ dầu khí và kinh doanh khí sẽ là chìa khóa giúp doanh nghiệp khí Việt Nam từng bước hội nhập vững chắc vào chuỗi cung ứng năng lượng quốc tế.
Theo ông Đặng Huy Đông - Nguyên Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, LNG không chỉ là nhiên liệu thay thế than mà là một cấu phần quan trọng của thị trường năng lượng mới, với lợi thế tạo ra “đường ống dẫn khí ảo toàn cầu” thông qua hóa lỏng, vận chuyển và tái hóa khí. Thực tiễn quốc tế cho thấy nhiều quốc gia xuất khẩu và nhập khẩu LNG đã coi đây là trụ cột năng lượng, trong đó các nước nhập khẩu lớn như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore lựa chọn mô hình Hợp nhất LNG để tối ưu chi phí và giảm rủi ro.
Ông Đông cho hay, mô hình Hợp nhất LNG hoạt động thông qua một đơn vị được Nhà nước bảo trợ, chịu trách nhiệm đàm phán hợp đồng dài hạn, quản lý logistics và phân bổ LNG cho các hộ tiêu thụ, qua đó hình thành mức giá LNG thống nhất, minh bạch và dễ dự báo. Mô hình này giúp tận dụng xếp hạng tín dụng quốc gia, tăng sức mặc cả với nhà cung cấp, đồng thời giảm rủi ro take-or-pay và linh hoạt điều phối nguồn nhiên liệu.
Trong bối cảnh thị trường LNG Việt Nam đang hình thành, ông Đông cho rằng, việc nghiên cứu, thí điểm mô hình Hợp nhất LNG gắn với quy hoạch điện và hạ tầng LNG là hướng đi chiến lược, không chỉ giúp kiểm soát chi phí và ổn định giá điện mà còn nâng cao an ninh năng lượng và chủ động hội nhập thị trường năng lượng toàn cầu.
Từ góc độ chuyên môn, PGS.TS. Lê Quang Duyến - Trưởng khoa Dầu khí và Năng lượng (Trường Đại học Mỏ – Địa chất) nhận định, hội nhập quốc tế là yêu cầu tất yếu đối với doanh nghiệp khí Việt Nam khi thị trường LNG toàn cầu bước sang giai đoạn mới, ưu tiên hợp đồng dài hạn, gắn chặt với các tiêu chí ESG, trung hòa carbon và minh bạch phát thải. Trong bối cảnh khí thiên nhiên không còn mặc nhiên được coi là năng lượng sạch, ESG trở thành điều kiện bắt buộc để doanh nghiệp tham gia chuỗi giá trị năng lượng toàn cầu.
Theo ông, Việt Nam đã có những nền tảng ban đầu như hạ tầng LNG và khung pháp lý mới, song vẫn tồn tại nhiều rào cản về cơ chế giá, tiếp cận hạ tầng, khung điều tiết thị trường, rủi ro chính sách và năng lực thương mại LNG của doanh nghiệp. Để vượt qua thách thức, cần hoàn thiện cơ chế giá và hợp đồng LNG, minh bạch hóa tiếp cận hạ tầng, đồng thời nâng cao năng lực quản trị rủi ro và giảm chi phí vốn.
Về dài hạn, PGS.TS. Lê Quang Duyến nhấn mạnh, việc cải tổ thể chế điều tiết, phát triển thị trường khí cạnh tranh, mở cửa hạ tầng theo cơ chế bên thứ ba và từng bước hình thành chuỗi cung ứng LNG carbon thấp, gắn với CCUS, hydrogen và cơ chế carbon, nhằm tạo nền tảng cho doanh nghiệp khí Việt Nam hội nhập sâu hơn vào thị trường năng lượng toàn cầu.
Về phía doanh nghiệp, ông Nguyễn Thái Hà - Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Tập đoàn Năng lượng T&T cho hay, Việt Nam đang đứng trước những yêu cầu chiến lược lớn về phát triển năng lượng, trong bối cảnh nhu cầu tiêu thụ tăng nhanh, nguồn năng lượng truyền thống suy giảm và rủi ro địa chính trị gia tăng. Cùng với cam kết đạt phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, hệ thống năng lượng buộc phải chuyển đổi theo hướng xanh và bền vững hơn. Trong quá trình này, LNG được xác định là nguồn năng lượng chuyển tiếp quan trọng, vừa giúp giảm phát thải so với than, vừa đảm bảo tính ổn định cho hệ thống điện.
LNG không chỉ là câu chuyện nhập khẩu nhiên liệu mà là một chuỗi giá trị hoàn chỉnh, từ mua bán quốc tế, kho cảng tiếp nhận, tồn trữ, tái hóa khí, logistics vận chuyển đến phát điện và phân phối. Chuỗi cung ứng LNG mang tính toàn cầu, đòi hỏi tiêu chuẩn cao về an toàn, môi trường, độ tin cậy và khả năng kết nối dài hạn.
Nếu hạ tầng và logistics không đạt chuẩn quốc tế, doanh nghiệp Việt Nam sẽ khó tiếp cận các hợp đồng LNG dài hạn, chi phí cao, rủi ro lớn và khó thu hút vốn quốc tế. Vì vậy, đầu tư đồng bộ hạ tầng LNG chính là nền tảng để hình thành thị trường LNG hiện đại, minh bạch và tăng cường năng lực hội nhập.
Từ thực tiễn triển khai dự án LNG Hải Lăng tại Quảng Trị theo mô hình chuỗi tích hợp “LNG to Power”, lãnh đạo T&T cho rằng, hạ tầng LNG cần được nhìn nhận như một phần không thể tách rời của điện khí, logistics phải được quy hoạch và đầu tư đi trước, tránh manh mún. Các dự án LNG muốn thu hút đối tác và dòng vốn quốc tế cần được xây dựng trên nền tảng chuẩn mực quốc tế về kỹ thuật, môi trường và quản trị. Trên cơ sở đó, T&T kiến nghị sớm hoàn thiện khung pháp lý ổn định cho phát triển LNG, khuyến khích đầu tư hạ tầng tích hợp và tạo điều kiện triển khai các dự án LNG trọng điểm, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng và thúc đẩy chuyển dịch năng lượng bền vững.