Hộ kinh doanh trong bức tranh tăng trưởng: Khơi thông nguồn lực, mở rộng dư địa phát triển

Mai Phương

21/08/2026 15:44

Ngày 21/8 tại Hà Nội, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổ chức Hội thảo “Hộ kinh doanh và động lực tăng trưởng” nhằm tập trung trao đổi về những thay đổi chính sách giai đoạn 2026 - 2027 và đề xuất giải pháp tạo môi trường thuận lợi để hộ kinh doanh giảm chi phí tuân thủ, tăng nguồn lực tái đầu tư, mở rộng hoạt động và phát triển lên quy mô lớn hơn.

Chính sách thuế cần trở thành động lực tăng trưởng

Từ ngày 1/6/2025, Nghị định 70/2025/NĐ-CP đánh dấu bước chuyển quan trọng trong quản lý thuế đối với hộ kinh doanh khi mở rộng việc áp dụng hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền có kết nối dữ liệu với cơ quan thuế. Chính sách này góp phần minh bạch hóa doanh thu, thúc đẩy số hóa hoạt động kinh doanh và tạo nền tảng để cơ quan quản lý triển khai các chính sách hỗ trợ có mục tiêu hơn đối với khu vực kinh tế tư nhân.

ho-kinh-doanh-pld-1787301924.JPG
Hội thảo “Hộ kinh doanh và động lực tăng trưởng” do Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổ chức.

Năm 2026 cũng ghi nhận những chuyển động đáng chú ý trong tư duy hoạch định chính sách khi yêu cầu nâng cao hiệu quả quản lý được đặt song hành với mục tiêu duy trì và mở rộng dư địa phát triển cho khu vực kinh tế tư nhân. Trong bối cảnh đó, đề xuất giảm 30% thuế thu nhập trong năm 2026 - 2027 đối với hộ, cá nhân kinh doanh và doanh nghiệp có doanh thu đến 10 tỷ đồng cho thấy chính sách tài khóa đang được sử dụng như một công cụ hỗ trợ tăng trưởng, không chỉ bằng việc giảm nghĩa vụ trước mắt mà còn giúp chủ thể kinh doanh giữ lại thêm nguồn lực để tái đầu tư.

Đối với phần lớn hộ kinh doanh có quy mô nhỏ, biên lợi nhuận mỏng và khả năng chống chịu trước biến động thị trường còn hạn chế, mỗi khoản chi phí được cắt giảm đều có thể tác động trực tiếp đến dòng tiền và quyết định đầu tư. Vì vậy, việc giảm thuế không chỉ đơn thuần là giảm một khoản phải nộp mà còn có thể giúp hộ kinh doanh bổ sung vốn lưu động, nhập thêm hàng hóa, đầu tư công nghệ, duy trì hoặc mở rộng hoạt động. Khi nguồn lực được giữ lại tiếp tục quay vòng trong nền kinh tế, chính sách thuế có thể tạo hiệu ứng lan tỏa tới đầu tư, việc làm và tăng trưởng.

Theo bà Cao Thị Thanh Lan - Đại diện Cục Quản lý, giám sát chính sách thuế, phí và lệ phí, Bộ Tài chính, một thay đổi đáng chú ý là ngưỡng doanh thu không phải nộp thuế đã được điều chỉnh mạnh trong thời gian ngắn, từ mức 100 triệu đồng/năm theo phương pháp trước đây lên 1 tỷ đồng/năm từ năm 2026. 

Đây là mức được cân nhắc nhằm hài hòa giữa yêu cầu quản lý, bảo đảm công bằng và mục tiêu khuyến khích khu vực hộ kinh doanh phát triển, từng bước tạo điều kiện cho những hộ có đủ năng lực chuyển đổi lên mô hình doanh nghiệp. Định hướng này cũng gắn với mục tiêu lớn hơn về phát triển khu vực kinh tế tư nhân, trong đó Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2030 có khoảng 2 triệu doanh nghiệp hoạt động.

Tuy nhiên, tác động tích cực của chính sách thuế chỉ có thể phát huy đầy đủ nếu phần nguồn lực được giải phóng không tiếp tục bị bào mòn bởi các chi phí phát sinh ở những khâu khác. Nếu giảm thuế là bước đầu để tạo thêm dư địa tài chính, thì môi trường chính sách cũng cần được thiết kế đồng bộ để nguồn lực tiếp tục được đưa vào sản xuất, kinh doanh và mở rộng đầu tư, thay vì quay trở lại dưới dạng chi phí thủ tục hoặc chi phí tuân thủ.

ba-cao-thi-thanh-lan-pld-1787301924.JPG
Bà Cao Thị Thanh Lan - Đại diện Cục Quản lý, giám sát chính sách thuế, phí và lệ phí, Bộ Tài chính.

Khoảng cách thực thi và bài toán chi phí tuân thủ

Trong quá trình chuyển sang phương thức quản lý và kê khai mới, hộ kinh doanh vẫn phải đối mặt với những khó khăn liên quan đến thuế, kế toán, hóa đơn và khả năng thích ứng với các yêu cầu mới.

Đặc điểm của khu vực hộ kinh doanh khiến vấn đề này càng cần được lưu ý. Khác với doanh nghiệp có bộ phận kế toán, pháp chế hay công nghệ chuyên trách, một chủ hộ có thể đồng thời đảm nhiệm việc bán hàng, nhập hàng, quản lý tồn kho, theo dõi dòng tiền và thực hiện các nghĩa vụ hành chính. Do đó, một thay đổi trên văn bản chính sách có thể kéo theo nhiều điều chỉnh trong thực tế vận hành, từ việc cập nhật quy định, sử dụng phần mềm đến bố trí nhân lực và cơ sở vật chất.

Theo bà Nguyễn Thị Thu Hà - Phó Tổng Thư ký Hội Tư vấn Thuế Việt Nam, qua quá trình tiếp xúc với hộ kinh doanh tại các chợ, hiệp hội ngành nghề, các hộ nhỏ lẻ cũng như các đại lý thuế và đơn vị cung cấp dịch vụ kế toán, Hội ghi nhận phần lớn hộ kinh doanh không có tâm lý né tránh nghĩa vụ thuế. Ngược lại, họ mong muốn được tuân thủ và thực hiện đầy đủ trách nhiệm. Khó khăn nằm ở chỗ hệ thống quy định tương đối phức tạp và phân tán, khiến nhiều hộ chưa biết bắt đầu từ đâu, văn bản nào áp dụng cho trường hợp của mình và thực hiện như thế nào mới được coi là đúng.

Từ thực tế này, việc đánh giá tác động chính sách cần được thực hiện trên tổng thể thay vì chỉ xem xét từng văn bản hoặc từng nghĩa vụ riêng biệt. Một nghĩa vụ có thể hợp lý khi được xem xét độc lập, nhưng khi áp dụng đồng thời với nhiều nghĩa vụ khác, tổng chi phí về thời gian, tài chính và khả năng thích ứng đối với cùng một chủ thể kinh doanh có thể lớn hơn đáng kể.

ba-nguyen-thi-thu-ha-pld-1787301924.JPG
Bà Nguyễn Thị Thu Hà - Phó Tổng Thư ký Hội Tư vấn Thuế Việt Nam.

Hội Tư vấn Thuế Việt Nam đồng thuận với đề xuất giảm 30% thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp đang được thảo luận tại Quốc hội, song cho rằng đây mới là giải pháp hỗ trợ mang tính thời điểm. Về dài hạn, cấu trúc chính sách cần tiếp tục được hoàn thiện theo hướng tạo động lực thực chất hơn cho hộ kinh doanh, trong đó có việc xem xét ngưỡng doanh thu áp dụng phương pháp tính thuế theo thu nhập gắn với tiêu chí doanh nghiệp siêu nhỏ, xây dựng cơ chế chuyển tiếp hợp lý, tránh phát sinh nghĩa vụ trùng lặp đối với hoạt động thương mại điện tử và có giai đoạn chuyển tiếp phù hợp để hộ kinh doanh làm quen, thực hiện đúng các yêu cầu mới.

Đáng chú ý, một trong những vấn đề được các hộ kinh doanh đặt ra tại hội thảo liên quan đến quy định chuyên ngành tác động trực tiếp tới điểm bán, trong đó có đề xuất hạn chế trưng bày sản phẩm thuốc lá tại điểm bán trong dự thảo sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá.

“Bên cạnh những quy định chung về thuế, hóa đơn hay kế toán, chúng tôi cũng đang đứng trước nhiều yêu cầu mới từ các chính sách khác. Chẳng hạn, trong dự thảo liên quan đến phòng, chống tác hại của thuốc lá hiện nay có đề xuất cấm trưng bày sản phẩm tại điểm bán. Với các cửa hàng tạp hóa nhỏ, nơi quầy bán cũng thường là chỗ để hàng, nếu quy định thay đổi thì chúng tôi sẽ phải điều chỉnh lại cách bố trí cửa hàng, lưu giữ sản phẩm và cả cách phục vụ khách. Vì vậy, chúng tôi hy vọng thay vì chỉ nghiêm cấm hoàn toàn thì có thể chỉ cấm trưng bày bên ngoài thôi, còn bên trong thì vẫn cho chúng tôi trình bày bình thường, như thế sẽ dễ cho chúng tôi hơn” - Đại diện hộ kinh doanh cho biết.

Không chỉ quan tâm đến phạm vi áp dụng, hộ kinh doanh cũng băn khoăn về thời gian chuyển đổi để có thể thực hiện đúng quy định mới. Với đề xuất cấm trưng bày sản phẩm nêu trên, các hộ mong muốn có khoảng thời gian làm quen, chuyển đổi hợp lý, khoảng 18 - 24 tháng trước khi áp dụng đầy đủ. Điều này nhằm tránh tình trạng người kinh doanh chưa kịp hiểu hoặc điều chỉnh đã đứng trước nguy cơ sai sót, đồng thời cần có hướng dẫn cụ thể, dễ hiểu về cách thức trưng bày.

Đồng ý với những khó khăn trên, ông Đậu Anh Tuấn - Phó Tổng Thư ký, Trưởng Ban pháp chế VCCI cũng cho rằng, thuốc lá là ngành hàng đặc thù, việc cấm quảng bá trên các nền tảng truyền thông là hợp lý, tuy nhiên nếu cấm cả việc trưng bày thì khá thử thách, khá khó cho hộ kinh doanh, không biết hộ kinh doanh sẽ tiếp xúc với khách hàng bằng cách nào.

ong-dau-anh-tuan-pld-1787301924.JPG
Ông Đậu Anh Tuấn - Phó Tổng Thư ký, Trưởng Ban pháp chế VCCI.

Quy định này nếu được áp dụng sẽ tác động tới mạng lưới điểm bán rộng khắp trên toàn quốc, phần lớn là cửa hàng tạp hóa nhỏ, hộ kinh doanh cá thể, quầy hàng và điểm bán truyền thống. Mỗi điểm bán phải nắm được quy định, xác định lại cách bố trí quầy kệ, phương thức lưu giữ sản phẩm và quy trình bán hàng. Trong khi đó, doanh nghiệp và hệ thống phân phối cũng phải điều chỉnh hướng dẫn vận hành đối với một mạng lưới lớn và không đồng nhất.

Ở chiều ngược lại, cơ quan quản lý tại địa phương cũng cần có sự chuẩn bị tương ứng. Một quy định được áp dụng trên mạng lưới rộng và phân tán chỉ có thể thực thi thống nhất khi khái niệm, tiêu chí kiểm tra và cách xử lý tình huống được hướng dẫn đầy đủ, lực lượng thực thi được tập huấn và người kinh doanh có đầu mối để giải đáp những trường hợp chưa được dự liệu.

Trong bối cảnh đó, một giai đoạn chuyển tiếp thực chất từ 18 - 24 tháng có thể được cân nhắc. Khoảng thời gian này không đồng nghĩa với trì hoãn mục tiêu quản lý mà là điều kiện để hoàn thiện hướng dẫn, thống nhất cách hiểu, truyền thông tới điểm bán, tập huấn lực lượng thực thi, điều chỉnh cơ sở vật chất và xử lý những tình huống phát sinh trước khi chuyển sang áp dụng đầy đủ.

Chính sách đồng bộ để mở rộng dư địa tăng trưởng

Tại hội thảo, các ý kiến cho rằng mục tiêu tăng trưởng cao không chỉ được quyết định bởi những chính sách vĩ mô mà còn được hình thành từ hàng triệu quyết định đầu tư, mở rộng sản xuất, kinh doanh và tuyển dụng ở cấp độ doanh nghiệp, hộ kinh doanh. Những quyết định này chịu tác động trực tiếp từ chất lượng môi trường chính sách.

Một khoản thuế được giảm có thể trở thành vốn tái đầu tư; một thủ tục được đơn giản hóa có thể giải phóng nguồn lực; trong khi một quy định có phạm vi và lộ trình phù hợp có thể giúp thị trường chủ động thích ứng thay vì phát sinh thêm chi phí và rủi ro.

dong-luc-tang-truong-pld-1787301924.JPG
Các đại biểu trao đổi, thảo luận tại hội thảo.

Vì vậy, yêu cầu đặt ra không chỉ là ban hành thêm chính sách hỗ trợ mà còn phải bảo đảm các chính sách cùng vận động theo một hướng. Giảm nghĩa vụ cần đi cùng kiểm soát chi phí thực thi; yêu cầu quản lý mới cần được đánh giá đầy đủ về tác động; những thay đổi lớn cần có lộ trình và thời gian chuyển tiếp tương xứng để người kinh doanh có thể thích ứng.

Khi các nguyên tắc này được bảo đảm, tăng cường quản lý nhà nước không nhất thiết đồng nghĩa với thu hẹp dư địa tăng trưởng, cũng như tăng trưởng không phải đánh đổi bằng việc nới lỏng các yêu cầu quản lý. Một hệ thống chính sách hiệu quả cần vừa bảo đảm kỷ cương, vừa tạo dựng niềm tin và nuôi dưỡng nguồn lực để hộ kinh doanh tiếp tục đầu tư, mở rộng hoạt động, từng bước phát triển lên quy mô lớn hơn và đóng góp vào động lực tăng trưởng chung của nền kinh tế.

Mai Phương