Tọa đàm được tổ chức trong khuôn khổ chiến dịch “100 ngày đêm gỡ điểm nghẽn trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số”, hướng tới Lễ trao Giải thưởng Chuyển đổi số Việt Nam – VDA lần thứ 9, dự kiến diễn ra vào trung tuần tháng 10/2026.
Phát biểu khai mạc toạ đàm, ông Nguyễn Minh Hồng - Chủ tịch Hội Truyền thông số Việt Nam (VDCA), nguyên Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông cho rằng, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang giữ vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển đất nước. Những định hướng lớn của Đảng, trong đó có Nghị quyết số 57 của Bộ Chính trị, xác định đây là động lực phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
“Hưởng ứng tinh thần chỉ đạo đó, chiến dịch “100 ngày đêm gỡ điểm nghẽn trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số” đang được triển khai với quyết tâm cao trên phạm vi cả nước. Đây không đơn thuần là một chiến dịch hành động, mà còn là lời hiệu triệu đối với toàn hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp, các tổ chức khoa học công nghệ và từng địa phương trong việc biến quyết tâm chính trị thành kết quả thực tiễn”, ông Nguyễn Minh Hồng cho biết.
Theo ông, bên cạnh những kết quả đạt được, quá trình chuyển đổi số vẫn còn những vấn đề như dữ liệu phân tán, thiếu liên thông, một số quy trình chưa được tái cấu trúc, thể chế chưa theo kịp tốc độ phát triển công nghệ, chất lượng nhân lực số chưa đồng đều và yêu cầu bảo đảm an toàn, an ninh mạng ngày càng cao.
“Tọa đàm lần này chính là một hoạt động cụ thể, góp phần nhận diện và tháo gỡ những rào cản, khơi thông nguồn lực để thúc đẩy tiến trình chuyển đổi số quốc gia đi vào thực chất”, ông Nguyễn Minh Hồng nói.
Tại tọa đàm, ông Trần Kiên - Trưởng phòng Chính sách số, Cục Chuyển đổi số quốc gia, Bộ Khoa học và Công nghệ cho biết, quá trình triển khai đang có sự chênh lệch giữa các bộ, ngành và địa phương. Trong 5 tháng đầu năm 2026, tỷ lệ tái sử dụng dữ liệu tại các bộ, ngành chỉ đạt hơn 5%, trong khi ở địa phương đạt 96%. Tỷ lệ hồ sơ trực tuyến tại các bộ, ngành ở mức 34%, so với 94% tại địa phương; tỷ lệ số hóa hồ sơ và kết quả điện tử lần lượt là 19% và 89%.
Theo ông Trần Kiên, những con số này cho thấy số hóa chỉ tạo ra giá trị khi dữ liệu tiếp tục được khai thác, tái sử dụng trong quy trình nghiệp vụ. Từ thực tiễn triển khai, ông chỉ ra các nhóm vấn đề liên quan đến dữ liệu, quy trình, nền tảng, hạ tầng và an toàn thông tin, nhân lực và trách nhiệm, đầu tư và tài chính.
Về dữ liệu, hiện vẫn còn một số cơ sở dữ liệu trọng yếu chưa được kết nối, đồng bộ; chất lượng dữ liệu và khả năng chia sẻ giữa các hệ thống chưa đồng đều. Trong khi đó, việc số hóa các quy trình cũ vẫn phổ biến, tỷ lệ tái cấu trúc quy trình còn hạn chế. Hệ thống nền tảng tại một số nơi có tình trạng phân mảnh, cán bộ phải thao tác trên nhiều hệ thống.
Hạ tầng và an toàn thông tin cũng đặt ra yêu cầu tiếp tục đầu tư, nhất là ở cấp cơ sở. Cùng với đó, nguồn nhân lực chuyên trách về chuyển đổi số chưa đồng đều, trách nhiệm thực thi ở một số nơi chưa được gắn chặt với kết quả. Công tác chuẩn bị đầu tư, nghiệm thu và cơ chế tài chính cũng là những nội dung cần tiếp tục hoàn thiện.
Trình bày tham luận “Phát triển ứng dụng định danh quốc gia (VNeID) góp phần thúc đẩy chuyển đổi số quốc gia trong kỷ nguyên mới”, Đại tá Ngô Như Cường - Phó Cục trưởng Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội (C06), Bộ Công an cho hay, VNeID từng bước trở thành điểm tương tác số phục vụ người dân và doanh nghiệp. Đến nay, ứng dụng đã phát triển 85 tiện ích, ghi nhận hơn 500 triệu lượt truy cập, trung bình khoảng 6 triệu người sử dụng mỗi ngày.
VNeID đã tích hợp hơn 42,9 triệu sổ sức khỏe điện tử, 20,2 triệu giấy phép lái xe, 7,4 triệu đăng ký xe, 26,4 triệu thẻ bảo hiểm y tế và nhiều loại giấy tờ, dữ liệu khác. Hệ thống định danh điện tử cũng được triển khai trong nhiều lĩnh vực như hàng không, đường sắt đô thị, ngân hàng, thuế, y tế và viễn thông.
Trong giao thông hàng không, giải pháp xác thực sinh trắc học được triển khai tại 19 cảng hàng không, với hơn 156.000 chuyến bay nội địa sử dụng. Trong lĩnh vực ngân hàng, việc đối chiếu sinh trắc học và chia sẻ dữ liệu đã được thực hiện đối với 268,7 triệu hồ sơ. Tại lĩnh vực y tế, 600 kiosk y tế tự động đã phục vụ hơn 2,2 triệu lượt đăng ký khám.
Tuy nhiên, C06 chỉ ra 4 điểm nghẽn lớn trong phát triển VNeID, gồm: thể chế; liên thông dữ liệu và tổ chức hệ sinh thái VNeID; phát huy vai trò chủ thể của công dân số; khả năng sử dụng định danh điện tử xuyên biên giới.
Để tháo gỡ các điểm nghẽn, Đại tá Ngô Như Cường cho biết trong thời gian tới, C06 sẽ tiếp tục hoàn thiện Luật Định danh và xác thực điện tử; triển khai Đề án phát triển VNeID giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045; triển khai Nghị quyết về phát triển công dân số; đồng thời đẩy mạnh kết nối VNeID với hệ thống định danh điện tử của các quốc gia.
C06 hướng tới phát triển VNeID thành hạ tầng định danh và tương tác số tin cậy của quốc gia, kết nối Nhà nước, người dân và doanh nghiệp trong nước, đồng thời từng bước liên thông với hệ thống định danh của các nước.
Từ thực tiễn địa phương, bà Phạm Thị Ngọc Quyên - Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Đà Nẵng cho biết, địa phương xác định chuyển đổi số là một trong những động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Quá trình triển khai tại Đà Nẵng được thực hiện trên cơ sở sự chỉ đạo thường xuyên của người đứng đầu, hoàn thiện thể chế và chính sách, đầu tư hạ tầng số, đồng thời lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm thụ hưởng.
“Những kết quả nổi bật đó bắt nguồn từ các kinh nghiệm triển khai quý báu, tiêu biểu nhất là sự quyết tâm, kiên trì và sát sao chỉ đạo thường xuyên từ người đứng đầu hệ thống chính trị thành phố”, bà Quyên nhấn mạnh.
Đà Nẵng đã đầu tư hệ thống hạ tầng truyền dẫn, trung tâm dữ liệu, mạng viễn thông băng rộng, trạm cập bờ cáp quang biển và kho dữ liệu dùng chung. Thành phố cũng đang hoàn thiện Khu Công viên phần mềm số 2, hướng tới tạo thêm không gian cho doanh nghiệp công nghệ cao và chuẩn bị hạ tầng phục vụ dữ liệu, AI.
Tuy nhiên, trong quá trình triển khai, Đà Nẵng vẫn gặp phải không ít khó khăn, thách thức. Để tiếp tục tháo gỡ các “điểm nghẽn” thể chế và đưa chuyển đổi số quốc gia bước vào giai đoạn phát triển chiều sâu, thực chất, mang lại giá trị gia tăng cao cho nền kinh tế, bà Phạm Thị Ngọc Quyên đề xuất, tăng cường chia sẻ cơ sở dữ liệu quốc gia cốt lõi và mở rộng phạm vi sandbox đối với tài sản số, blockchain, đô thị thông minh; cho phép các đô thị lớn có cơ chế đãi ngộ đặc thù thu hút chuyên gia AI, bán dẫn và ban hành visa dành cho cộng đồng du mục số.
Đồng thời đổi mới phương thức đo lường hiệu quả chuyển đổi số theo hướng lấy mức độ hài lòng, thời gian và chi phí tiết kiệm của người dân, doanh nghiệp cùng tỷ lệ đóng góp thực tế của kinh tế số vào GRDP làm thước đo chính.