Sự kiện là diễn đàn để cơ quan quản lý, nhà khoa học, doanh nghiệp và đối tác quốc tế trao đổi về tiềm năng ứng dụng công nghệ thu giữ, sử dụng và lưu trữ carbon (CCUS), những điều kiện cần thiết để triển khai trong thực tiễn, cũng như các giải pháp tháo gỡ khó khăn về công nghệ, cơ chế chính sách và nguồn lực đầu tư.
Phát biểu chào mừng, Nhà báo Nguyễn Ngọc Thạch - Tổng Biên tập Báo Nông nghiệp và Môi trường cho biết, Việt Nam đã cam kết đạt mức phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050. Đây là mục tiêu lớn, thể hiện trách nhiệm của Việt Nam đối với nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế, đồng thời đặt ra yêu cầu thay đổi mạnh mẽ phương thức phát triển kinh tế, sử dụng năng lượng và quản lý phát thải.
“Chúng ta đều hiểu rằng, để hiện thực hóa cam kết này, không thể chỉ dừng lại ở quyết tâm hay những định hướng chính sách. Điều quan trọng hơn là phải có các giải pháp công nghệ phù hợp, nguồn lực thực hiện và sự tham gia của toàn xã hội. Trong bối cảnh đó, các công nghệ thu giữ và lưu trữ CO₂ (CCS), cũng như thu giữ, sử dụng và lưu trữ CO₂ (CCUS) đang mở ra thêm những hướng tiếp cận trong quá trình giảm phát thải, đặc biệt đối với các ngành công nghiệp khó cắt giảm phát thải”, ông Nguyễn Ngọc Thạch nhấn mạnh.
Theo lãnh đạo Báo Nông nghiệp và Môi trường, từ tiềm năng công nghệ đến khả năng ứng dụng thực tế vẫn còn nhiều vấn đề cần làm rõ, bao gồm tính khả thi, chi phí đầu tư, cơ sở hạ tầng, cơ chế chính sách và khả năng tiếp cận, làm chủ công nghệ của doanh nghiệp Việt Nam. Vì vậy, việc kết nối cơ quan quản lý, nhà khoa học, doanh nghiệp và các cơ quan truyền thông có vai trò quan trọng trong quá trình đưa công nghệ vào thực tiễn.
Phát biểu chỉ đạo hội thảo, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Lê Trọng Yên ghi nhận sự chủ động của Báo Nông nghiệp và Môi trường, Cục Biến đổi khí hậu, VPI cùng các đơn vị phối hợp tổ chức sự kiện.
Theo Thứ trưởng, mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050 đòi hỏi Việt Nam đổi mới sâu sắc mô hình tăng trưởng, phương thức sản xuất và sử dụng tài nguyên. Quá trình chuyển đổi cần gắn với bảo đảm an ninh năng lượng, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và tạo thêm động lực phát triển kinh tế. Do đó, mỗi giải pháp giảm phát thải phải được lựa chọn trên cơ sở khoa học, tính khả thi và điều kiện thực tế của đất nước.
Đối với Việt Nam, các nghiên cứu bước đầu về lưu trữ CO₂ ngoài khơi, kinh nghiệm trong lĩnh vực dầu khí và nhu cầu chuyển đổi của các ngành công nghiệp tạo cơ sở để xem xét những hướng ứng dụng cụ thể. Việc sử dụng CO₂ trong sản xuất hóa chất, nhiên liệu, vật liệu xây dựng, cũng như kết hợp thu giữ CO₂ với sản xuất hydro, đang mở ra thêm các hướng nghiên cứu và hợp tác. Tuy nhiên, từng giải pháp cần được đánh giá đầy đủ về điều kiện áp dụng, hiệu quả giảm phát thải và khả năng phát triển thị trường.
Thứ trưởng đề nghị hội thảo tập trung làm rõ vai trò, phạm vi ứng dụng của CCUS trong lộ trình giảm phát thải quốc gia; cơ sở khoa học, điều kiện công nghệ và yêu cầu an toàn trong toàn bộ chuỗi; các vấn đề cần hoàn thiện về pháp lý; đồng thời xác định phương án huy động nguồn lực và nâng cao năng lực triển khai trong nước.
Việc lựa chọn lĩnh vực ưu tiên cần căn cứ vào đặc điểm công nghệ sản xuất, nồng độ CO₂ trong dòng khí thải, quy mô và tính ổn định của nguồn phát thải, cũng như khả năng áp dụng các giải pháp giảm phát thải khác. Với từng ngành và cơ sở sản xuất, cần xác định rõ mức đóng góp dự kiến của CCUS vào mục tiêu giảm phát thải, cùng tác động đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Đối với lưu trữ CO₂, các nghiên cứu cần được bổ sung bằng dữ liệu khảo sát và đánh giá cụ thể về dung tích lưu trữ, khả năng bơm ép, tính toàn vẹn của địa điểm lưu trữ và điều kiện giám sát an toàn trong dài hạn. Những hạ tầng dầu khí hiện có cũng cần được đánh giá về khả năng chuyển đổi công năng, chất lượng công trình và yêu cầu an toàn trước khi xem xét tận dụng.
Thứ trưởng nhấn mạnh, phát triển CCUS không chỉ là vấn đề công nghệ mà còn liên quan đến nhiều lĩnh vực như môi trường, địa chất, dầu khí, công nghiệp, xây dựng và tài chính. Vì vậy, Việt Nam cần rà soát, hoàn thiện các quy định pháp luật, bảo đảm tính thống nhất và phân định rõ trách nhiệm của các bộ, ngành, cơ quan liên quan. Cục Biến đổi khí hậu được đề nghị phối hợp với các đơn vị nghiên cứu, đề xuất thể chế hóa những nội dung phù hợp trong quá trình xây dựng Luật Biến đổi khí hậu.
Theo Global CCS Institute, tính đến ngày 31/7/2026, thế giới có 113 dự án CCS thương mại đang vận hành, 59 dự án đang xây dựng, 308 dự án ở giai đoạn phát triển nâng cao và 352 dự án ở giai đoạn phát triển ban đầu. Công suất thu giữ CO₂ của các dự án đang vận hành đạt khoảng 68 triệu tấn mỗi năm, trong khi các dự án đang xây dựng có tổng công suất khoảng 56 triệu tấn mỗi năm.
Tuy nhiên, việc triển khai CCS ở quy mô thương mại không chỉ phụ thuộc vào mức độ sẵn sàng của công nghệ. Theo Global CCS Institute, các yếu tố quan trọng khác gồm khung cấp phép và quản lý rõ ràng, khả năng tiếp cận địa điểm lưu trữ, nguồn doanh thu có tính ổn định và cơ chế phân bổ rủi ro phù hợp trong toàn chuỗi giá trị.
Đối với Việt Nam, một số điều kiện ban đầu để nghiên cứu phát triển CCUS đã hình thành. Nước ta có các nguồn phát thải CO₂ tập trung từ lĩnh vực công nghiệp và năng lượng, tiềm năng lưu trữ tại một số bể trầm tích và mỏ dầu khí suy giảm ngoài khơi, cùng kinh nghiệm, dữ liệu địa chất và năng lực kỹ thuật của ngành dầu khí. Những lợi thế này có thể được nghiên cứu, tận dụng cho các hoạt động vận chuyển, bơm ép và lưu trữ CO₂.
Bên cạnh đó, quá trình hình thành thị trường carbon, phát triển tài chính xanh và hoàn thiện pháp luật liên quan đến hoạt động dầu khí tạo thêm cơ sở để xem xét triển khai CCUS. Đáng chú ý, Luật Dầu khí số 10/2026/QH16 được Quốc hội thông qua ngày 23/8/2026, có hiệu lực từ ngày 1/3/2027, đã bổ sung các quy định liên quan đến hoạt động thu giữ và lưu trữ carbon gắn với hoạt động dầu khí.
TS. Nguyễn Thanh Tùng - Phó Viện trưởng Viện Dầu khí Việt Nam (VPI) nhận định, việc bổ sung các quy định này là bước tiến quan trọng, tạo cơ sở pháp lý ban đầu để Việt Nam chuyển từ nghiên cứu tiềm năng sang từng bước triển khai dự án thực tế. Tuy nhiên, để hình thành các dự án CCS/CCUS thương mại, Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện quy định và hướng dẫn cho toàn bộ vòng đời dự án, từ cơ chế phân lô, lựa chọn nhà đầu tư, khảo sát, đánh giá địa điểm, cấp phép bơm ép, vận hành và giám sát đến đóng dự án, quản lý trách nhiệm dài hạn.
“Đối với lưu trữ CO₂, tiềm năng địa chất không đồng nghĩa với khả năng triển khai một dự án thương mại. Mỗi địa điểm lưu trữ cần được đánh giá và kiểm chứng đầy đủ về dung tích lưu trữ, khả năng bơm ép và tính toàn vẹn lưu trữ, đồng thời phải bảo đảm khả năng giám sát an toàn trong dài hạn.
Bên cạnh yếu tố kỹ thuật, dự án chỉ có thể được triển khai ở quy mô thương mại khi hình thành được mô hình kinh doanh khả thi, có nguồn doanh thu đủ ổn định để bù đắp chi phí đầu tư, vận hành và rủi ro cho nhà đầu tư. Điều này đòi hỏi cơ chế xác định phí dịch vụ phù hợp, các cam kết dài hạn từ nguồn phát thải và phương án phân bổ rủi ro rõ ràng giữa các bên tham gia”, TS. Nguyễn Thanh Tùng nhấn mạnh.
Các chuyên gia cũng cho rằng, trong điều kiện phù hợp, CCS/CCUS có thể hỗ trợ giảm phát thải tại những ngành khó cắt giảm, thúc đẩy đổi mới công nghệ và nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm carbon thấp. Tuy nhiên, khả năng ghi nhận giá trị giảm phát thải trên thị trường carbon còn phụ thuộc vào khung pháp lý, phương pháp luận và các yêu cầu đo lường, báo cáo, thẩm tra được áp dụng cho từng cơ chế.
Những tiến bộ trong công nghệ thu giữ CO₂, sản xuất hydro phát thải thấp và tích hợp các quy trình công nghiệp đang mở ra thêm khả năng ứng dụng tại các lĩnh vực như xi măng, thép, dầu khí, hóa chất và sản xuất năng lượng. Dù vậy, việc triển khai cần căn cứ vào điều kiện cụ thể của từng ngành và cơ sở sản xuất, bảo đảm tính khả thi kỹ thuật, hiệu quả kinh tế và an toàn môi trường.
Tại phiên tọa đàm, các đại biểu, chuyên gia và doanh nghiệp tiếp tục trao đổi về lựa chọn công nghệ, chi phí đầu tư, hạ tầng, cơ chế chính sách và khả năng hợp tác, chuyển giao công nghệ. Các ý kiến tập trung làm rõ những điều kiện cần thiết để đưa CCUS vào thực tiễn, đồng thời gợi mở hướng hợp tác và triển khai dự án phù hợp với Việt Nam.
Mai Phương
Link nội dung: https://nhaquanly.vn/cong-nghe-ccus-giai-phap-tiem-nang-thuc-day-muc-tieu-net-zero-tai-viet-nam-a19771.html