NỘI DUNG VÀ CÁCH THỨC VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CHÍNH SÁCH XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO Ở TP.HCM HIỆN NAY

Chủ tịch Hồ Chí Minh không đưa ra một định nghĩa về xóa đói, giảm nghèo, cũng không viết một tác phẩm chuyên bàn về vấn đề này. Nhưng quan điểm của Người về xóa đói, giảm nghèo được thể hiện qua các bài nói, bài viết, chỉ thị và qua chính quá trình chỉ đạo thực tiễn cách mạng có thể khái quát: Tư tưởng Hồ Chí Minh về xóa đói, giảm nghèo là hệ thống các quan điểm sâu sắc về mục tiêu, chủ thể, nội dung và phương pháp thực hiện xóa đói, giảm nghèo, nhằm tạo điều kiện cho những người dân đang rơi vào cảnh nghèo nàn, lạc hậu có cơ hội thoát nghèo, hướng đến sự phát triển bền vững1.

1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về chính sách xóa đói, giảm nghèo

Thứ nhất, về mục tiêu của xóa đói, giảm nghèo

Mục tiêu xóa đói, giảm nghèo trong tư tưởng Hồ Chí Minh bao gồm cả đời sống vật chất và đời sống tinh thần. Về đời sống vật chất, Người nói: “Dân sinh là cái gì? Là cái ăn, cái mặc, cái ở. Ba cái đó đều quan trọng2”. Về đời sống tinh thần, Người xác định: “Chúng ta phải ra sức đấu tranh làm cho nhân dân ta ai cũng ăn no, mặc ấm, có việc làm, có giờ nghỉ, được học tập”. Việc đưa “có giờ nghỉ” vào cùng hàng với “ăn no, mặc ấm” cho thấy Người quan niệm đời sống của người lao động bao gồm cả điều kiện tái tạo sức lao động và phát triển bản thân, chứ không dừng ở mức tiêu dùng.

Một nội dung nữa trong quan điểm về mục tiêu là công bằng xã hội. Hồ Chí Minh xác định nguyên tắc phân phối: “làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm không hưởng”, đồng thời phản đối chủ nghĩa bình quân: “Không nên có tình trạng người giỏi, người kém, việc khó, việc dễ, cũng công điểm như nhau. Đó là chủ nghĩa bình quân. Phải tránh chủ nghĩa bình quân”. Nguyên tắc này không mâu thuẫn với việc chăm lo cho người yếu thế; Người vẫn yêu cầu Nhà nước giúp đỡ, chăm nom những người già yếu hoặc tàn tật. Điều Người cảnh báo là việc cào bằng sẽ triệt tiêu động lực vươn lên của chính bộ phận dân cư nghèo.

1791250205858-4437236240104106218-4437236240104106218-n-1791251370.jpg
Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Hợp tác xã Hùng Sơn, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên gặt mùa (năm 1954)- Nguồn ảnh: hochiminh.vn

Thứ hai, về chủ thể thực hiện xóa đói, giảm nghèo

Đảng và Nhà nước là chủ thể lãnh đạo, quản lý. Hồ Chí Minh quy trách nhiệm này bằng một cách nói rất dứt khoát: “Đảng và Chính phủ phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân. Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi”. Bốn mệnh đề được lặp lại theo cùng một cấu trúc, gắn với bốn tình trạng thiếu hụt cụ thể là đói, rét, dốt và ốm; và trách nhiệm được quy về một chủ thể duy nhất, không có ngoại lệ hay điều kiện kèm theo. Vai trò này thể hiện ở việc hoạch định chính sách phát triển kinh tế – xã hội, phân bổ lợi ích theo nguyên tắc dân chủ, bình đẳng, công khai, và bảo đảm nguồn lực cho các chương trình. Chất lượng của chủ thể quản lý quyết định kết quả. Người khẳng định: “Chính sách đúng là nguồn gốc của thắng lợi”, đồng thời nhấn mạnh yếu tố con người thực thi: “Công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”, “vấn đề cán bộ là một vấn đề rất trọng yếu, rất cần kíp”.

Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội là chủ thể vận động, tập hợp lực lượng. Hồ Chí Minh giao cho từng tổ chức một chức năng riêng trong việc nâng cao đời sống Nhân dân: Đoàn Thanh niên đi đầu trong phong trào giáo dục, thuyết phục quần chúng; Công đoàn trở thành trường học quản lý nhà nước, quản lý kinh tế và văn hóa; Hội Liên hiệp Phụ nữ động viên, tổ chức và lãnh đạo phụ nữ tiến lên; Hội Nông dân trở thành lực lượng của hàng chục triệu nông dân trong phát triển sản xuất, nâng cao đời sống và xây dựng nông thôn. Cách phân công này cho thấy Người không coi các đoàn thể là bộ phận phụ trợ cho chính quyền mà là những kênh riêng để tiếp cận từng nhóm dân cư với phương thức phù hợp.

Toàn thể Nhân dân, trong đó có chính người nghèo, vừa là chủ thể vừa là lực lượng. Đây là điểm mà Hồ Chí Minh nhấn mạnh nhiều lần: “Muốn chống nạn đói, cũng phải huy động và tổ chức tất cả lực lượng của toàn quốc đồng bào”; “công việc chống nạn đói, cũng như công việc to lớn khác, phải kiên quyết, phải phấn đấu, phải sẵn lòng hy sinh, phải toàn dân nhất trí”. Người gắn việc giúp đồng bào thoát đói nghèo với lòng yêu nước: “Làm cho mình khỏi đói rét, đồng bào mình khỏi đói rét tức là kháng chiến”.

Hồ Chí Minh yêu cầu chính người nghèo phải là chủ thể của quá trình vươn lên: Nhân dân “phải biết tự mình lo toan, gánh vác, không ỷ lại, không ngồi chờ”. Yêu cầu này được Người đặt song song với trách nhiệm của Nhà nước, không phải để giảm nhẹ trách nhiệm ấy mà để bảo đảm rằng nguồn lực hỗ trợ có nơi chuyển hóa thành kết quả.

1791250206052-4437236240104106218-4437236240104106218-n-1791251370.jpg
Phó Chủ tịch UBND TP HCM Trần Thị Diệu Thúy trao tặng phương tiện sinh kế cho người có hoàn cảnh khó khăn ở TP HCM - Nguồn ảnh: Báo Bảo vệ Pháp luật.

Thứ ba, về nội dung xóa đói, giảm nghèo

Về đời sống vật chất, Người đặt vấn đề ăn lên trước hết: “Việt Nam ta có câu tục ngữ: ‘Có thực mới vực được đạo’. Trung Quốc cũng có câu tục ngữ: ‘Dân dĩ thực vi thiên’. Hai câu ấy tuy đơn giản, nhưng rất đúng lẽ. Muốn nâng cao đời sống của nhân dân thì trước hết phải giải quyết tốt vấn đề ăn (rồi đến vấn đề mặc và các vấn đề khác)”. Cách sắp xếp thứ tự ưu tiên này gắn với một chỉ dẫn về biện pháp: muốn giải quyết vấn đề ăn thì phải có đủ lương thực, mà lương thực do nông nghiệp sản xuất ra, nên phát triển nông nghiệp là việc cực kỳ quan trọng.

Về đời sống tinh thần, Hồ Chí Minh coi giáo dục là điều kiện để người nghèo thoát nghèo lâu dài. Người khẳng định “văn hoá giáo dục là một mặt trận quan trọng trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà”, và yêu cầu phát triển đào tạo nghề nghiệp, chuyên môn: “trong việc kiến thiết nước nhà về mọi mặt, ta thiếu rất nhiều cán bộ như kỹ sư, chuyên gia, thợ lành nghề, thầy dạy học, v.v.. Vì vậy ta phải phát triển mạnh đại học và chuyên nghiệp”.

Nội dung xóa đói, giảm nghèo về tinh thần còn bao gồm việc xây dựng nếp sống mới, loại bỏ những phong tục tập quán lạc hậu, bài trừ cờ bạc, rượu chè, mê tín; xây dựng quan hệ gia đình bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau; chi tiêu có kế hoạch; cưới hỏi, giỗ tết đơn giản, tiết kiệm; quan tâm việc học hành của con cái; thực hiện nam nữ bình đẳng. Những yêu cầu này thoạt nhìn thuộc phạm vi văn hóa nhưng có tác động trực tiếp đến kinh tế hộ, bởi chi tiêu không kiểm soát và các tệ nạn xã hội là nguyên nhân phổ biến làm suy kiệt nguồn lực của hộ nghèo.

Thứ tư, về phương pháp thực hiện xóa đói, giảm nghèo

Tuyên truyền, giáo dục, vận động. Người định nghĩa: “Tuyên truyền là đem một việc gì nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm”. Bốn động từ này xác lập một chuỗi kết quả tăng dần, trong đó “dân làm” mới là đích cuối. Về yêu cầu đối với người làm công tác tuyên truyền, Người đòi hỏi phải nắm vững chính sách, viết và nói ngắn gọn, dễ hiểu, và bản thân phải là tấm gương từ lời nói đến việc làm.

Có tổ chức, có kế hoạch, phát huy dân chủ trong xây dựng kế hoạch. Hồ Chí Minh yêu cầu địa phương chủ động chứ không trông chờ kế hoạch chung: “Không phải Chính phủ xuất tiền ra làm. Chính phủ chỉ giúp kế hoạch cổ động. Vì vậy những kế hoạch địa phương có thể tự thực hành được, cứ giúp cho đồng bào làm giàu dần”. Người phê phán lối làm việc quan liêu, chỉ đạo bằng giấy tờ: “các đồng chí ở huyện phải đi xuống xã mà xem xét, kiểm tra, chớ làm theo lối quan liêu, tỉnh gửi giấy về huyện, huyện gửi giấy về xã. Giấy không che rét cho trâu bò được”. Đồng thời, Người yêu cầu người dân cũng phải chủ động: “Khó khăn phải giải quyết dần dần, từng bước, có kế hoạch, có thứ tự. Nhân dân ta phải dùng sáng kiến và nghị lực của mình để tự giải quyết khó khăn của mình, không nên hoàn toàn ỷ lại vào Chính phủ”.

Tăng gia sản xuất đi đôi với thực hành tiết kiệm. Đây là thành tố mà Hồ Chí Minh nhấn mạnh nhiều nhất. Người nói: “Nước ta còn nghèo. Muốn sung sướng thì phải có tinh thần tự lực cánh sinh, cần cù lao động. Phải cố gắng sản xuất. Lao động là nghĩa vụ thiêng liêng, là nguồn sống, nguồn hạnh phúc của chúng ta. Trong xã hội ta, không có nghề nào thấp kém, chỉ những kẻ lười biếng, ỷ lại mới đáng xấu hổ”. Bốn câu thơ của Người diễn đạt quan hệ giữa nỗ lực cá nhân với kết quả tập thể: “Người siêng năng thì mau tiến bộ. Cả nhà siêng năng thì chắc ấm no. Cả làng siêng năng thì làng phồn thịnh. Cả nước siêng năng thì nước mạnh giàu”. Về quan hệ giữa sản xuất và tiết kiệm, Người dùng một hình ảnh dễ nhớ: “Tăng gia là tay phải của hạnh phúc. Tiết kiệm là tay trái của hạnh phúc”.

Từ đây rút ra một chỉ dẫn có tính nguyên tắc về quan hệ giữa cứu trợ và phát triển: cứu trợ, bảo trợ xã hội chỉ nhằm giải quyết tình thế đối với một bộ phận dân cư đặc biệt khó khăn khi có thiên tai, dịch bệnh, rủi ro, mang ý nghĩa nhân đạo; chỉ có phát triển sản xuất mới là biện pháp cơ bản và chủ động để khắc phục triệt để đói nghèo. Đây chính là nội dung của phương châm hỗ trợ cần câu và hướng dẫn cách câu chứ không cho sẵn cá, được vận dụng rộng rãi trong công tác giảm nghèo hiện nay.

Chống quan liêu, tham ô, lãng phí trong quá trình thực hiện chính sách. Hồ Chí Minh phê phán rất gay gắt việc thất thoát nguồn lực dành cho người nghèo: “Khi nhận được gạo, lại còn cấp phát tràn lan, chậm chạp, gạo đến người đói chậm, người không đói cũng nhận được gạo. Quá tệ hơn nữa là gạo của Chính phủ giúp dân, chừng một nửa đến tay dân đói, còn một nửa bị tham ô, lãng phí”. Câu này chứa ba loại sai phạm mà công tác giảm nghèo hiện nay vẫn phải phòng ngừa: cấp phát sai đối tượng, chậm tiến độ và thất thoát nguồn lực.

Phát động phong trào thi đua yêu nước. Hồ Chí Minh xác định: “Đặc điểm của thi đua ái quốc là: Đưa tất cả tinh thần và lực lượng của quân và dân Việt Nam để thực hiện ba mục đích: Diệt giặc đói, Diệt giặc dốt, Diệt giặc ngoại xâm”. Người yêu cầu thi đua phải thiết thực: “thi đua phải thiết thực, rõ ràng, đúng mực, giản đơn”; “Lời thách thức thi đua phải thiết thực, chớ lông bông. Đã thách thức thì phải làm cho kỳ được, hoặc vượt qua mức thách thức càng tốt”.

Bốn nhóm quan điểm nêu trên tạo thành một chỉnh thể có quan hệ nội tại. Quan điểm về mục tiêu xác định đích đến và tiêu chuẩn đánh giá; quan điểm về chủ thể xác định ai làm và làm với vai trò gì; quan điểm về nội dung xác định phải tác động vào những mặt nào của đời sống; quan điểm về phương pháp xác định cách làm để nguồn lực chuyển thành kết quả. Đây cũng là khung phân tích mà đề tài sử dụng ở Chương 2 để khảo sát thực trạng vận dụng tại Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Nội dung, cách thức vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về chính sách xóa đói, giảm nghèo ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay

2.1. Vận dụng quan điểm về mục tiêu: Đặt giảm nghèo trong mục tiêu phát triển của Thành phố

Hồ Chí Minh đặt việc khắc phục đói nghèo trong mục tiêu chung của chủ nghĩa xã hội và lấy đời sống thực tế của Nhân dân làm tiêu chuẩn đánh giá. Thành phố Hồ Chí Minh vận dụng quan điểm này theo ba cách.

Thứ nhất, xác lập chỉ tiêu giảm nghèo là chỉ tiêu của Nghị quyết Đại hội Đảng bộ, không phải chỉ tiêu ngành. Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ XI, nhiệm kỳ 2020 - 2025 xác định “Đến cuối năm 2025, cơ bản không còn hộ nghèo theo tiêu chuẩn nghèo cả nước, còn dưới 0,5% hộ nghèo theo chuẩn nghèo Thành phố”. Việc đưa một chỉ tiêu xã hội vào hệ chỉ tiêu của Đại hội Đảng bộ đặt nó ngang hàng với các chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế và buộc toàn hệ thống chính trị chịu trách nhiệm về kết quả.

Thứ hai, lồng ghép mục tiêu giảm nghèo vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội thường xuyên. Cơ chế lồng ghép được mô tả cụ thể: Ủy ban nhân dân Thành phố chỉ đạo đơn vị được giao nhiệm vụ tham mưu về công tác giảm nghèo cùng các sở, ban, ngành “chịu trách nhiệm chủ trì xây dựng các chỉ tiêu, giải pháp hỗ trợ giảm nghèo theo từng năm và giai đoạn phù hợp với điều kiện đặc thù của từng địa phương”. Nhờ cơ chế này, kết quả giảm nghèo trở thành một tiêu chí kiểm nghiệm hiệu quả của phát triển, chứ không phải một khoản chi ngoài kế hoạch phát triển.

1791250206216-4437236240104106218-4437236240104106218-n-1791251370.jpg
Các đơn vị trao phương tiện sinh kế tặng hộ nghèo tại quận Phú Nhuận (cũ), TP Hồ Chí Minh - Nguồn ảnh: Báo Quân đội Nhân dân.

Thứ ba, chuyển mục tiêu tổng quát thành lộ trình định lượng theo từng năm. Thành phố xây dựng lộ trình cụ thể: năm 2021 giảm 0,4% hộ nghèo và 0,35% hộ cận nghèo; năm 2022 giảm 0,35% và 0,2%; năm 2023 giảm 0,38% và 0,28%; năm 2024 giảm 0,21% và 0,23%; năm 2025 giảm 0,04% và 0,13%. Việc chia nhỏ mục tiêu năm năm thành chỉ tiêu từng năm và giao đến từng đơn vị cấp xã tạo điều kiện theo dõi tiến độ và điều chỉnh kịp thời. Đây là sự vận dụng chỉ dẫn của Hồ Chí Minh về việc “phải giải quyết dần dần, từng bước, có kế hoạch, có thứ tự”.

Điểm đáng chú ý về mặt phương pháp là lộ trình này không tuyến tính mà giảm dần cường độ theo từng năm, phản ánh nhận thức rằng nhóm hộ nghèo càng về sau càng khó tiếp cận. Chỉ tiêu năm 2025 chỉ còn 0,04% so với 0,4% của năm 2021, tức là bằng một phần mười. Cách đặt chỉ tiêu này tránh được áp lực chạy theo thành tích ở giai đoạn cuối, khi những hộ còn lại chủ yếu là hộ không có khả năng lao động.

2.2.2. Vận dụng quan điểm về chủ thể: Xây dựng cấu trúc chủ thể nhiều tầng

Hồ Chí Minh xác định một cấu trúc chủ thể gồm Đảng và Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể, toàn dân và chính người nghèo. Thành phố Hồ Chí Minh đã hình thành một cấu trúc tương ứng.

Vai trò lãnh đạo của cấp ủy đảng và quản lý của chính quyền

Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Chỉ thị số 32-CT/TU ngày 21/3/2024 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giảm nghèo bền vững, nhằm “nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên và Nhân dân Thành phố, phát huy mạnh mẽ truyền thống đoàn kết, tinh thần ‘tương thân tương ái’”. Đến giai đoạn mới, Chỉ thị số 12-CT/TU ngày 21/5/2026 phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng chủ thể trong hệ thống chính trị: cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội các cấp; Đảng ủy Ủy ban nhân dân Thành phố; Đảng ủy Đoàn Đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân Thành phố; Đảng ủy Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Thành phố; Ban Tổ chức Thành ủy; Ban Tuyên giáo và Dân vận Thành ủy.

Về phía chính quyền, hệ thống văn bản chỉ đạo được ban hành liên tục trong cả giai đoạn: Quyết định số 1946/QĐ-UBND kiện toàn Ban Chỉ đạo, Quyết định số 5731/QĐ-BCĐ thành lập Tổ Công tác, các kế hoạch triển khai hằng năm, các kế hoạch phúc tra. Riêng năm 2025, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành năm kế hoạch phúc tra để xác nhận các quận, huyện hoàn thành mục tiêu không còn hộ nghèo theo chuẩn Thành phố.

Vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội

Số liệu năm 2025 cho thấy quy mô đóng góp thực tế của các đoàn thể. Liên đoàn Lao động Thành phố chăm lo dịp Tết Nguyên đán Ất Tỵ cho 696.146 đoàn viên công đoàn, người lao động có hoàn cảnh khó khăn với tổng kinh phí hơn 676,3 tỷ đồng, đồng thời phát vay cho 45.130 đoàn viên công đoàn, người lao động với tổng vốn hơn 1.217 tỷ đồng. Hội Chữ thập đỏ Thành phố chăm lo thường xuyên cho 203.116 trường hợp, trợ giúp đột xuất 102.132 trường hợp và cung cấp 615.115 suất ăn dinh dưỡng cho người có hoàn cảnh khó khăn và bệnh nhân nghèo tại các bệnh viện. Hội Bảo trợ bệnh nhân nghèo phẫu thuật mắt miễn phí cho 3.967 bệnh nhân nghèo, trao tặng 141 xe lăn, xe lắc cho người khuyết tật, hỗ trợ chi phí trị bệnh ung thư cho 81 cháu đang điều trị tại Bệnh viện Ung Bướu Thành phố. Hội Liên hiệp Phụ nữ Thành phố thực hiện chương trình tầm soát và hỗ trợ điều trị ba loại bệnh ung thư cho 500 phụ nữ thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo với kinh phí 0,95 tỷ đồng. Hội Nông dân Thành phố vận động được 8,4 tỷ đồng, trao tặng 2.448 phần quà Tết, 150 sổ tiết kiệm nghĩa tình, xây dựng và sửa chữa 11 căn nhà tình thương, trao 1.419 suất học bổng Lương Định Của.

Điều đáng chú ý là mỗi tổ chức tiếp cận một nhóm đối tượng và một loại nhu cầu riêng: Công đoàn tiếp cận người lao động qua quan hệ lao động; Hội Phụ nữ tiếp cận nhu cầu chăm sóc sức khỏe sinh sản và tầm soát bệnh; Hội Nông dân tiếp cận nhu cầu về sinh kế nông nghiệp; Hội Chữ thập đỏ và Hội Bảo trợ bệnh nhân nghèo xử lý những rủi ro đột xuất về y tế. Cách phân công theo chức năng này tương ứng với cách Hồ Chí Minh giao nhiệm vụ riêng cho từng đoàn thể trong nhiệm vụ nâng cao đời sống Nhân dân.

Vai trò của Tổ tự quản giảm nghèo bền vững

Thiết chế Tổ tự quản giảm nghèo bền vững là mắt xích gần dân nhất trong cấu trúc chủ thể. Với 2.763 tổ hoạt động ở địa bàn khu phố, ấp, đây là lực lượng trực tiếp nắm thông tin từng hộ, tham gia bình nghị công nhận hộ nghèo, hộ cận nghèo, và phản ánh nhu cầu lên cấp trên. Báo cáo số 74/BC-UBND ghi nhận: “Từ việc khảo sát, bình nghị công nhận hộ nghèo, hộ cận nghèo (đối tượng thụ hưởng) đến việc xây dựng chỉ tiêu giảm nghèo và kế hoạch thực hiện chương trình giảm nghèo hằng năm của từng khu phố, ấp và phường, xã, thị trấn đều có sự tham gia của người dân, hộ nghèo và hộ cận nghèo; bản thân hộ có thể tự mình kê khai thông tin và đề nghị khu phố, ấp rà soát, khảo sát để xác định thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo hoặc hộ thoát nghèo theo quy định”.

Cơ chế này thực hiện đúng yêu cầu của Hồ Chí Minh: “Việc gì cũng phải học hỏi và bàn bạc với dân chúng, giải thích cho dân chúng. Tin vào dân chúng. Đưa mọi vấn đề cho dân chúng thảo luận và tìm cách giải quyết”. Việc để hộ tự kê khai và đề nghị rà soát cũng đồng thời giải quyết một vấn đề kỹ thuật: bảo đảm không bỏ sót hộ khó khăn mà chính quyền chưa nắm được.

Vai trò của chính hộ nghèo

Thành phố khuyến khích và ghi nhận vai trò chủ thể của người nghèo qua công tác thi đua khen thưởng. Trong Phong trào thi đua “Vì người nghèo - Không để ai bị bỏ lại phía sau” giai đoạn 2021 - 2025, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố khen thưởng 285 tập thể, 322 cá nhân và 30 hộ gia đình tiêu biểu. Việc đưa hộ gia đình vào danh mục đối tượng khen thưởng, bên cạnh tập thể và cá nhân cán bộ, thể hiện quan niệm rằng người nghèo là chủ thể chứ không phải đối tượng thụ hưởng thụ động.

2.3. Vận dụng quan điểm về nội dung: Tác động đồng thời vào đời sống vật chất và đời sống tinh thần

Hồ Chí Minh xác định nội dung xóa đói, giảm nghèo bao quát cả đời sống vật chất lẫn đời sống tinh thần, trong đó ăn, mặc, ở, học hành, chữa bệnh là những nhu cầu nền tảng. Hệ thống chính sách của Thành phố giai đoạn 2021 - 2025 được tổ chức thành các nhóm tương ứng.

Nhóm chính sách tác động vào khả năng tạo thu nhập

Tín dụng ưu đãi là công cụ có quy mô lớn nhất. Nguồn vốn cho vay Hỗ trợ giảm nghèo có tổng nguồn vốn lũy kế đến ngày 31/01/2025 là 2.418,076 tỷ đồng, đã giải ngân cho 33.716 lượt hộ vay với số tiền 1.933,355 tỷ đồng; tổng dư nợ 1.893,998 tỷ đồng của 34.619 lượt hộ vay; nợ quá hạn 10,408 tỷ đồng, chiếm 0,55% tổng dư nợ. Quỹ Quốc gia về việc làm và nguồn vốn cho vay Giải quyết việc làm Thành phố có tổng nguồn vốn lũy kế đến ngày 31 tháng 12 năm 2024 là 8.618,355 tỷ đồng, đã giải ngân cho 180.341 dự án, giải quyết việc làm cho 180.341 lao động với số tiền 12.181,22 tỷ đồng; nợ quá hạn 14,392 tỷ đồng, chiếm 0,17% tổng dư nợ.

Tỷ lệ nợ quá hạn thấp ở cả hai nguồn vốn cho thấy phần lớn hộ vay sử dụng vốn có hiệu quả và có khả năng hoàn trả. Đây là chỉ báo gián tiếp về mức độ chuyển hóa nguồn lực hỗ trợ thành hoạt động sản xuất, kinh doanh thực chất - đúng với nguyên tắc mà Hồ Chí Minh nêu về việc “giúp cho kẻ có vốn để có thể tự lực được”.

Đào tạo nghề và giải quyết việc làm được tổ chức trên cơ sở rà soát nhu cầu thực tế. Trong giai đoạn, Thành phố hỗ trợ giải quyết việc làm cho 18.208 lao động thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo và hộ mới thoát mức chuẩn hộ cận nghèo, trong đó việc làm trong nước cho 18.189 lao động và ngoài nước cho 19 lao động; hỗ trợ đào tạo nghề cho 4.252 lao động với số tiền 777,64 triệu đồng.

Đối chiếu quy mô giữa hai nhóm công cụ cho thấy một đặc điểm: số lượt hộ vay vốn (33.716 lượt) lớn hơn nhiều so với số lao động được đào tạo nghề (4.252 người). Điều này phản ánh thực tế rằng đối với hộ nghèo đô thị, nhu cầu vốn để duy trì hoạt động buôn bán nhỏ, dịch vụ hoặc sản xuất tại nhà cấp thiết hơn nhu cầu chuyển đổi nghề. Kết quả khảo sát của Sơn Thanh Tùng và Trương Thanh Thảo cũng cho thấy tỷ lệ người nghèo gặp khó khăn khi tiếp cận chính sách dạy nghề (31,8%) và giới thiệu việc làm (30,5%) cao hơn nhiều so với khi tiếp cận vay vốn ưu đãi (24,0%) và bảo hiểm y tế (3,8%).

Nhóm chính sách bảo đảm dịch vụ xã hội cơ bản

Về y tế, trong giai đoạn 2021 - 2025 Thành phố đã mua và cấp 411.637 thẻ bảo hiểm y tế cho thành viên hộ nghèo, hộ cận nghèo và hộ mới thoát mức chuẩn hộ cận nghèo với tổng số tiền 326,237 tỷ đồng. Riêng năm 2025, trên địa bàn Thành phố sau hợp nhất đã cấp 105.327 thẻ với kinh phí 111,009 tỷ đồng. Quy mô này giải thích vì sao chiều y tế đạt tỷ lệ bao phủ gần như toàn diện trong khảo sát thực nghiệm.

Về giáo dục và đào tạo, Thành phố hỗ trợ miễn, giảm học phí cho 73.676 lượt học sinh với số tiền 38,132 tỷ đồng; hỗ trợ chi phí học tập cho 89.141 lượt học sinh thuộc hộ nghèo với số tiền 104,599 tỷ đồng và cho 123 lượt sinh viên người dân tộc thiểu số với 867,9 triệu đồng; hỗ trợ học bổng cho 56.438 học sinh với hơn 102,749 tỷ đồng; hỗ trợ tiền ăn trưa cho 4.104 lượt trẻ em mẫu giáo thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo với hơn 5,043 tỷ đồng. Việc hỗ trợ tiền ăn trưa cho trẻ mẫu giáo là một chính sách có tác động kép: vừa bảo đảm dinh dưỡng cho trẻ, vừa giải phóng thời gian lao động cho cha mẹ.

Về nhà ở, Thành phố hỗ trợ xây mới và sửa chữa chống dột cho 2.733 căn nhà tình thương, nhà tình nghĩa với số tiền 133,178 tỷ đồng trong giai đoạn. Riêng năm 2025 trên địa bàn sau hợp nhất, Thành phố hỗ trợ xây, sửa chữa 637 căn nhà tình thương với 45,812 tỷ đồng và thực hiện Phong trào Xóa nhà tạm, nhà dột nát với 699 căn, kinh phí 47,209 tỷ đồng.

Về bảo hiểm xã hội tự nguyện, Thành phố hỗ trợ cho 20.537 lượt lao động với số tiền 2,069 tỷ đồng. So sánh quy mô kinh phí giữa chính sách này với chính sách bảo hiểm y tế (326,237 tỷ đồng) cho thấy mức độ can thiệp vào chiều bảo hiểm xã hội còn khiêm tốn, và đây cũng chính là chiều mà tỷ lệ thiếu hụt còn cao nhất sau chiều y tế.

Về nước sinh hoạt, chính sách hỗ trợ tiếp cận nguồn nước sinh hoạt an toàn đã hỗ trợ 86.034 lượt hộ với số tiền 1,614 tỷ đồng. Kết quả là đến cuối giai đoạn, chiều nước sinh hoạt và vệ sinh chỉ còn 12 hộ thiếu hụt, chiếm 0,07% – mức thấp nhất trong sáu chiều.

Nhóm chính sách trợ giúp xã hội và chăm lo đời sống

Bên cạnh hai nhóm trên, Thành phố duy trì một hệ thống chính sách trợ giúp mang tính đặc thù. Chính sách hỗ trợ tiền điện đã hỗ trợ cho 390.107 lượt hộ với số tiền 58,846 tỷ đồng. Chính sách khuyến khích hỏa táng hỗ trợ 1.192 trường hợp với hơn 2,589 tỷ đồng. Chính sách trợ cấp khó khăn chi hỗ trợ cho 1.739 hộ với 15,546 tỷ đồng. Việc chăm lo Tết Nguyên đán cho hộ nghèo, hộ cận nghèo và hộ mới thoát mức chuẩn hộ cận nghèo được thực hiện cho 244.191 lượt hộ với số tiền 342,701 tỷ đồng. Chính sách trợ giúp pháp lý miễn phí được thực hiện cho 532 người thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo và 59 vụ tham gia tố tụng bào chữa.

Đáng chú ý là chính sách chăm lo Tết có quy mô kinh phí lớn thứ hai trong nhóm chính sách không hoàn lại, chỉ sau bảo hiểm y tế. Điều này phản ánh một đặc điểm trong cách làm của Thành phố: bên cạnh những can thiệp mang tính cấu trúc, vẫn duy trì hình thức chăm lo có ý nghĩa văn hóa và tinh thần. Cách làm này có cơ sở trong tư tưởng Hồ Chí Minh, khi Người xác định nội dung xóa đói, giảm nghèo bao gồm cả đời sống tinh thần và khi chính Người khởi xướng phong trào nhường cơm sẻ áo, hũ gạo cứu đói mang đậm ý nghĩa cộng đồng.

Việc trợ giúp pháp lý miễn phí cũng có ý nghĩa riêng. Trong khung nghèo đa chiều, đây không phải một chiều đo lường, nhưng năng lực bảo vệ quyền lợi hợp pháp là điều kiện để hộ nghèo không bị đẩy sâu hơn vào khó khăn khi phát sinh tranh chấp về đất đai, lao động hay dân sự. Chính sách này gần với quan niệm của Liên hợp quốc về nghèo như tình trạng “không có quyền và bị loại trừ”.

Chính sách đối với nhóm chịu tác động của việc thay đổi tiêu chí

Một chính sách thể hiện rõ nguyên tắc không để ai bị bỏ lại phía sau là Nghị quyết số 120/NQ-HĐND ngày 11/12/2024 của Hội đồng nhân dân Thành phố về hỗ trợ cho hộ gia đình có liên quan đến việc thay đổi tiêu chí hộ nghèo, hộ cận nghèo. Khi chuẩn nghèo được điều chỉnh, một số hộ ra khỏi diện thụ hưởng dù hoàn cảnh chưa thay đổi. Nghị quyết này bù đắp phần chênh lệch: hỗ trợ tiền điện cho 242 hộ với 182,7 triệu đồng; hỗ trợ 30% kinh phí còn lại sau khi ngân sách hỗ trợ 70% để mua 371 thẻ bảo hiểm y tế với 138,3 triệu đồng; hỗ trợ chi phí học tập học kỳ II năm học 2024 - 2025 cho 151 học sinh với 113,250 triệu đồng.

Quy mô kinh phí của chính sách này rất nhỏ so với tổng nguồn lực Chương trình, nhưng ý nghĩa của nó nằm ở nguyên tắc: sự thay đổi công cụ quản lý không được làm xấu đi điều kiện sống của người dân. Đây là một biểu hiện cụ thể của yêu cầu mà Hồ Chí Minh đặt ra: mọi việc Đảng và Chính phủ đề ra đều phải nhằm cải thiện đời sống Nhân dân.

2.4. Vận dụng quan điểm về phương pháp: Tuyên truyền, kế hoạch hóa, kiểm tra giám sát và thi đua

Công tác tuyên truyền, vận động

Hồ Chí Minh xác định tuyên truyền là “đem một việc gì nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm”. Thành phố tổ chức công tác này qua nhiều kênh có tính thường xuyên. Chuyên mục phát thanh “Cùng nhau vượt nghèo” được phát vào thứ Sáu hằng tuần, từ 5 giờ 15 đến 5 giờ 30 trên sóng AM 610 kHz và phát lại lúc 20 giờ 45 cùng ngày; tính đến hết ngày 30/11/2025 đã thực hiện 48 kỳ với 96 lượt phát sóng. Thành phố cũng biên tập và phát hành 20.000 bản tin giảm nghèo bền vững.

Nội dung tuyên truyền được xác định theo hai hướng: làm cho hộ nghèo, hộ cận nghèo và Nhân dân hiểu đầy đủ về các chế độ chính sách chăm lo, hỗ trợ; đồng thời “làm cho các hộ dân thấy được nghĩa vụ, ý thức trách nhiệm của từng gia đình phải nỗ lực, phấn đấu trong cuộc sống; tạo điều kiện tăng cường sự tham gia của người dân vào các hoạt động giảm nghèo… khuyến khích, phát huy vai trò tự vươn lên thoát nghèo bền vững của hộ nghèo, hộ cận nghèo, không ỷ lại vào sự giúp đỡ của nhà nước, của xã hội”. Hai hướng này tương ứng với hai vế trong tư tưởng Hồ Chí Minh: trách nhiệm của Nhà nước và trách nhiệm tự thân của người dân.

Kết quả khảo sát thực nghiệm cho thấy công tác này còn dư địa. Trong mẫu 520 hộ nghèo, có 45,6% người trả lời cho rằng việc “cung cấp đầy đủ các thông tin về chính sách” là rất cần thiết và 46,8% cho rằng việc “tăng sự hỗ trợ/hướng dẫn” là rất cần thiết. Nghĩa là gần một nửa số hộ nghèo được khảo sát vẫn cảm thấy thiếu thông tin về chính sách mà chính họ là đối tượng thụ hưởng.

Công tác kế hoạch hóa và phân cấp

Hồ Chí Minh yêu cầu địa phương chủ động xây dựng kế hoạch phù hợp với hoàn cảnh của mình chứ không trông chờ kế hoạch chung. Thành phố vận dụng nguyên tắc này qua cơ chế giao chỉ tiêu và cơ chế ngân sách. Về chỉ tiêu, Thành phố giao đến từng đơn vị cấp xã, “để đảm bảo hoàn thành chỉ tiêu giảm nghèo của từng khu vực và của Thành phố”. Về ngân sách, cơ chế được thiết kế “trên cơ chế có tính khuyến khích, tạo điều kiện cho địa phương chủ động trong việc huy động nguồn lực tại chỗ cũng như lồng ghép với các nguồn khác, góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện chương trình, tăng cường xã hội hóa trong thực hiện các giải pháp hỗ trợ giảm nghèo”.

Kế hoạch giảm nghèo hằng năm được xây dựng “trên cơ sở khảo sát nhu cầu của từng người nghèo, hộ nghèo, hộ cận nghèo gắn với giải quyết các chiều thiếu hụt xã hội của hộ, từng bước vừa nâng cao thu nhập, vừa giảm các chiều thiếu hụt xã hội”. Cách làm này khắc phục được nguy cơ chỉ đạo bằng giấy tờ mà Hồ Chí Minh từng phê phán, bởi kế hoạch xuất phát từ nhu cầu cụ thể của hộ chứ không từ một khuôn mẫu chung.

Công tác kiểm tra, giám sát

Trong sáu tháng đầu năm 2025, cơ quan chủ trì Chương trình đã tổ chức đoàn phúc tra hoàn thành mục tiêu không còn hộ nghèo và kiểm tra, giám sát việc triển khai Chương trình tại 9 đơn vị quận, huyện, thành phố Thủ Đức và 124 đơn vị phường, xã, thị trấn. Nội dung kiểm tra bao gồm hồ sơ chỉ đạo điều hành, hồ sơ quản lý hộ, hồ sơ các chính sách trợ giúp; đồng thời “tiếp xúc trực tiếp các hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo và hộ gia đình nhằm giám sát, đánh giá hiệu quả việc thực hiện các giải pháp trợ giúp”. Trong cả giai đoạn, Thành phố tổ chức giám sát tại 16 đơn vị phường, xã, thị trấn năm 2022; 45 đơn vị quận, huyện và phường năm 2023; 28 đơn vị cấp huyện và cấp xã năm 2024.

Việc đoàn kiểm tra tiếp xúc trực tiếp với hộ chứ không chỉ kiểm tra hồ sơ là điểm đáng ghi nhận về phương pháp. Đây là cách làm mà Hồ Chí Minh yêu cầu khi Người nói cán bộ cấp trên “phải đi xuống xã mà xem xét, kiểm tra, chớ làm theo lối quan liêu”. Bài học kinh nghiệm mà Thành phố rút ra cũng nhấn mạnh yêu cầu này: công tác kiểm tra, giám sát rà soát hộ và chăm lo thực hiện chính sách “được các cấp thực hiện thường xuyên, đột xuất, đảm bảo chăm lo đúng đối tượng; kiên quyết xử lý các tổ chức, cá nhân sử dụng nguồn kinh phí của chương trình không đúng mục đích, trái quy định”. Yêu cầu xử lý nghiêm việc sử dụng sai nguồn kinh phí phản ánh đúng tinh thần phê phán của Hồ Chí Minh đối với việc thất thoát nguồn lực dành cho người nghèo.

Phong trào thi đua

Phong trào thi đua “Vì người nghèo - Không để ai bị bỏ lại phía sau” là hình thức tổ chức chủ đạo trong cả giai đoạn. Hội nghị tổng kết Phong trào giai đoạn 2021 - 2025 đã được tổ chức, kèm theo bốn quyết định khen thưởng của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố cho 285 tập thể, 322 cá nhân và 30 hộ gia đình tiêu biểu; đồng thời Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen theo Quyết định số 1596/QĐ-TTg ngày 24/7/2025 và Quyết định số 2080/QĐ-TTg ngày 18/9/2025.

Phong trào giảm nghèo còn được gắn với các cuộc vận động và phong trào thi đua khác: Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh”; Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”; Phong trào “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới”; Phong trào thi đua “Dân vận khéo”. Cách tổ chức lồng ghép này tương ứng với quan niệm của Hồ Chí Minh về thi đua ái quốc như một phương thức huy động toàn dân cho nhiều mục tiêu cùng lúc.

Tóm lại, về nội dung và cách thức vận dụng tư tưởng hồ chí minh về chính sách xóa đói, giảm nghèo, Thành phố đã chuyển hóa hệ quan điểm thành cơ chế cụ thể: đưa chỉ tiêu giảm nghèo vào Nghị quyết Đại hội Đảng bộ và chia thành lộ trình từng năm giao đến cấp xã; hình thành cấu trúc chủ thể nhiều tầng từ cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể đến Tổ tự quản giảm nghèo bền vững và chính hộ nghèo; tổ chức hệ thống chính sách thành ba lớp tác động vào thu nhập, dịch vụ xã hội cơ bản và trợ giúp xã hội; vận hành phương pháp tuyên truyền, kế hoạch hóa, kiểm tra giám sát và thi đua.

Tài liệu tham khảo

Dẫn theo Võ Thị Kim Huệ (2024): Thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo ở khu vực Tây Nam Bộ hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh, tài liệu đã dẫn, tr. 42.

 Hồ Chí Minh (2011): Toàn tập, Sđd, tập 13, tr. 255.

Hồ Chí Minh (2011): Toàn tập, Sđd, tập 12, tr. 333.

Hồ Chí Minh (2011): Toàn tập, Sđd, tập 12, tr. 631.

Hồ Chí Minh (2011): Toàn tập, Sđd, tập 13, tr. 216.

Hồ Chí Minh (2011): Toàn tập, Sđd, tập 9, tr. 518.

 Hồ Chí Minh (2011): Toàn tập, Sđd, tập 5, tr. 636.

 Hồ Chí Minh (2011): Toàn tập, Sđd, tập 5, tr. 313.

 Hồ Chí Minh (2011): Toàn tập, Sđd, tập 4, tr. 108.

 Hồ Chí Minh (2011): Toàn tập, Sđd, tập 4, tr. 109.

 Hồ Chí Minh (2011): Toàn tập, Sđd, tập 5, tr. 76.

 Hồ Chí Minh (2011): Toàn tập, Sđd, tập 13, tr. 67.

 Hồ Chí Minh (2011): Toàn tập, Sđd, tập 13, tr. 375.

 Hồ Chí Minh (2011): Toàn tập, Sđd, tập 12, tr. 647.

 Hồ Chí Minh (2011): Toàn tập, Sđd, tập 10, tr. 273.

 Hồ Chí Minh (2011): Toàn tập, Sđd, tập 5, tr. 191.

 Hồ Chí Minh (2011): Toàn tập, Sđd, tập 5, tr. 81.

 Hồ Chí Minh (2011): Toàn tập, Sđd, tập 15, tr. 280-281.

 Hồ Chí Minh (2011): Toàn tập, Sđd, tập 9, tr. 90.

 Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (2025): Báo cáo số 74/BC-UBND ngày 25/02/2025, tài liệu đã dẫn, tr. 9.

 Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (2025): Báo cáo số 343/BC-UBND ngày 25/12/2025, tài liệu đã dẫn, tr. 4.

 Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (2025): Báo cáo số 74/BC-UBND ngày 25/02/2025, tài liệu đã dẫn, tr. 9-10.

 Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (2025): Báo cáo số 74/BC-UBND ngày 25/02/2025, tài liệu đã dẫn, tr. 4.

 Ban Thường vụ Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh (2026): Chỉ thị số 12-CT/TU ngày 21/5/2023, tài liệu đã dẫn, tr. 1-4.

 Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (2025): Báo cáo số 343/BC-UBND ngày 25/12/2025, tài liệu đã dẫn, tr. 4-5.

 Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (2025): Báo cáo số 74/BC-UBND ngày 25/02/2025, tài liệu đã dẫn, tr. 7-8.

 Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (2025): Báo cáo số 74/BC-UBND ngày 25/02/2025, tài liệu đã dẫn, tr. 8-9.

 Sơn Thanh Tùng, Trương Thanh Thảo (2023): “Đánh giá các chính sách giảm nghèo tại Thành phố Hồ Chí Minh”, Tạp chí Nghiên cứu khoa học và Phát triển, tập 2, số 2, tr. 44.

 Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (2025): Báo cáo số 74/BC-UBND ngày 25/02/2025, tài liệu đã dẫn, tr. 7.

 Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (2025): Báo cáo số 343/BC-UBND ngày 25/12/2025, tài liệu đã dẫn, tr. 8.

 Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (2025): Báo cáo số 74/BC-UBND ngày 25/02/2025, tài liệu đã dẫn, tr. 6-7.

 Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (2025): Báo cáo số 74/BC-UBND ngày 25/02/2025, tài liệu đã dẫn, tr. 8.

 Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (2025): Báo cáo số 343/BC-UBND ngày 25/12/2025, tài liệu đã dẫn, tr. 9.

 Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (2025): Báo cáo số 74/BC-UBND ngày 25/02/2025, tài liệu đã dẫn, tr. 8.

 Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (2025): Báo cáo số 74/BC-UBND ngày 25/02/2025, tài liệu đã dẫn, tr. 8.

 Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (2025): Báo cáo số 74/BC-UBND ngày 25/02/2025, tài liệu đã dẫn, tr. 7, 9.

 Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (2025): Báo cáo số 74/BC-UBND ngày 25/02/2025, tài liệu đã dẫn, tr. 7.

 Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (2025): Báo cáo số 343/BC-UBND ngày 25/12/2025, tài liệu đã dẫn, tr. 10.

 Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (2025): Báo cáo số 343/BC-UBND ngày 25/12/2025, tài liệu đã dẫn, tr. 5-6.

 Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (2025): Báo cáo số 74/BC-UBND ngày 25/02/2025, tài liệu đã dẫn, tr. 5.

 Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (2025): Báo cáo số 343/BC-UBND ngày 25/12/2025, tài liệu đã dẫn, tr. 18.

 Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (2025): Báo cáo số 343/BC-UBND ngày 25/12/2025, tài liệu đã dẫn, tr. 11-12.

 Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (2025): Báo cáo số 343/BC-UBND ngày 25/12/2025, tài liệu đã dẫn, tr. 16-17.

TS. Nguyễn Công Lập - Học viện Chính trị Khu vực II – Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

Link nội dung: https://nhaquanly.vn/cach-thuc-van-dung-tu-tuong-ho-chi-minh-ve-chinh-sach-xoa-doi-giam-ngheo-o-tp-hien-nay-a19614.html