Hội thảo tập trung làm rõ định hướng phát triển ngành vật liệu theo hướng làm chủ công nghệ, nâng cao giá trị gia tăng, tăng năng lực tự chủ và sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Phát biểu khai mạc, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Phan Xuân Thuỷ nhấn mạnh, công nghiệp vật liệu giữ vị trí đặc biệt trong nền kinh tế, cung cấp đầu vào cho sản xuất công nghiệp, xây dựng kết cấu hạ tầng, năng lượng, điện tử, bán dẫn, quốc phòng, an ninh và nhiều ngành công nghệ cao.
Theo ông Phan Xuân Thủy, năng lực nghiên cứu, sản xuất và kiểm soát nguồn cung vật liệu ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng làm chủ công nghệ lõi, sức cạnh tranh của doanh nghiệp và năng lực tự chủ chiến lược của quốc gia. Vì vậy, phát triển công nghiệp vật liệu không chỉ là vấn đề của riêng một ngành mà liên quan đến mô hình tăng trưởng, cơ cấu công nghiệp và vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Những năm qua, công nghiệp vật liệu Việt Nam từng bước phát triển, cơ bản đáp ứng nhu cầu về nhiều loại vật tư, nguyên liệu, đóng góp vào tăng trưởng, xây dựng kết cấu hạ tầng, tạo việc làm và xuất khẩu. Một số vật liệu mới, vật liệu xanh và vật liệu tái chế cũng đã được nghiên cứu, sản xuất.
Tuy nhiên, kết quả đạt được chưa tương xứng với tiềm năng và yêu cầu phát triển. Sản xuất còn dựa nhiều vào khai thác tài nguyên, tiêu hao năng lượng, giá trị gia tăng thấp; chế biến sâu và làm chủ công nghệ lõi còn hạn chế. Nhiều loại vật liệu chất lượng cao, vật liệu công nghệ cao và vật liệu đặc chủng vẫn phụ thuộc vào nhập khẩu. Liên kết giữa nghiên cứu, đào tạo và sản xuất chưa chặt chẽ, trong khi chưa hình thành được doanh nghiệp nòng cốt đủ sức dẫn dắt chuỗi giá trị. Những hạn chế này cũng được Bộ Chính trị nêu trong Kết luận 83-KL/TW.
Chuyển từ lợi thế tài nguyên sang lợi thế công nghệ
Kết luận số 83-KL/TW xác định công nghiệp vật liệu là ngành công nghiệp nền tảng, có yếu tố quyết định năng lực tự chủ chiến lược, năng lực cạnh tranh quốc gia và khả năng làm chủ công nghệ lõi. Tinh thần xuyên suốt là chuyển từ khai thác lợi thế tài nguyên sang làm chủ công nghệ vật liệu, từ phát triển theo chiều rộng sang chiều sâu, từng bước làm chủ những công đoạn có giá trị gia tăng cao trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Tại hội thảo, TS. Vũ Mạnh Hùng - Vụ trưởng Vụ Kinh tế ngành, Ban Chính sách, chiến lược Trung ương cho rằng, công nghiệp vật liệu cần được xác định là ngành công nghiệp nền tảng trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là yếu tố đầu vào và điều kiện tiên quyết phục vụ phát triển các lĩnh vực thiết yếu, sản phẩm công nghệ chiến lược, góp phần xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, tự cường.
Phát triển công nghiệp vật liệu cần có trọng tâm, trọng điểm, không dàn trải, tập trung theo ba nhóm gồm vật liệu cơ bản, vật liệu chiến lược và vật liệu tương lai. Trong đó, vật liệu cơ bản cần được giữ vững và nâng cấp; vật liệu chiến lược tập trung nguồn lực để tạo đột phá; vật liệu tương lai cần được nghiên cứu, chuẩn bị từ sớm nhằm tận dụng lợi thế hiện tại và tạo nền tảng cho những giai đoạn tiếp theo.
Cùng quan điểm này, ông Nguyễn Ngọc Thành - Phó Cục trưởng Cục Công nghiệp, Bộ Công Thương nhấn mạnh, yêu cầu chuyển mạnh từ khai thác nguyên liệu thô sang chế biến sâu trên cơ sở làm chủ công nghệ, nâng cao giá trị gia tăng trong chuỗi sản xuất trong nước. Khoáng sản chiến lược cần được quản lý theo toàn bộ chuỗi từ điều tra, thăm dò, quy hoạch, khai thác, tinh chế, sản xuất vật liệu ứng dụng đến tái chế và dự trữ.
Cách tiếp cận mới cũng đặt yêu cầu lựa chọn có trọng điểm những vật liệu và công đoạn có ý nghĩa đối với khả năng tự chủ, các ngành công nghiệp chiến lược, công nghệ cao, năng lượng, quốc phòng và an ninh. Tự chủ không đồng nghĩa với tự sản xuất toàn bộ mà cần xác định những khâu thiết yếu cần kiểm soát, kết hợp sản xuất trong nước với đa dạng hóa nguồn nhập khẩu, hợp tác quốc tế, dự trữ, tái chế và phát triển vật liệu thay thế.
Tập trung vào vật liệu chiến lược và công nghệ mới
Theo định hướng của Kết luận 83-KL/TW, phát triển công nghiệp vật liệu được tổ chức theo ba nhóm. Với vật liệu cơ bản, trọng tâm là giữ vững năng lực cung ứng, nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh, tiết kiệm tài nguyên và năng lượng. Những ngành đã có quy mô lớn cần được cơ cấu lại, hạn chế phát triển theo chiều rộng dẫn đến dư thừa công suất, đồng thời tăng tỷ trọng sản phẩm có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao.
Đối với vật liệu chiến lược, cần huy động nguồn lực nhà nước, tư nhân và đầu tư nước ngoài để từng bước làm chủ công nghệ, chuỗi cung ứng đối với vật liệu bán dẫn, đất hiếm, vật liệu pin và lưu trữ năng lượng, vật liệu từ tính, hợp kim đặc chủng, vật liệu phục vụ quốc phòng, an ninh, năng lượng tái tạo và các ngành công nghệ cao. Kết luận đặt mục tiêu đến năm 2030 làm chủ một số công nghệ chế biến sâu đất hiếm, vật liệu bán dẫn, vật liệu pin; phấn đấu tỷ lệ nội địa hóa một số vật liệu chiến lược đạt 50%.
Với vật liệu tương lai, yêu cầu đặt ra là chủ động nghiên cứu, dự báo xu hướng công nghệ và chuẩn bị năng lực khoa học, công nghệ, nguồn nhân lực từ sớm. Các hướng được quan tâm gồm vật liệu nano, vật liệu hai chiều, vật liệu lượng tử, vật liệu sinh học, vật liệu thông minh, vật liệu tự phục hồi, vật liệu siêu dẫn, composite thế hệ mới và các vật liệu phục vụ lưu trữ, chuyển hóa năng lượng.
Cùng với lựa chọn đúng lĩnh vực ưu tiên, phát triển công nghiệp vật liệu phải gắn với yêu cầu xanh, tuần hoàn và bền vững. Kết luận 83-KL/TW yêu cầu hạn chế tối đa xuất khẩu khoáng sản thô, tăng hiệu quả tái chế, tiết kiệm tài nguyên, năng lượng, giảm phát thải và ô nhiễm môi trường.
Gắn nghiên cứu với sản xuất và thị trường
Một trong những nội dung được nhiều đại biểu tham dự nhấn mạnh là rút ngắn khoảng cách từ nghiên cứu đến sản xuất công nghiệp.
GS.TS Trần Đại Lâm - Viện trưởng Viện Khoa học Vật liệu, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam cho rằng, khâu đột phá nằm ở việc tổ chức đồng bộ chuỗi đào tạo, nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và sản xuất công nghiệp. Theo ông, Nhà nước kiến tạo thể chế và đầu tư hạ tầng chiến lược; doanh nghiệp đặt hàng, tổ chức sản xuất; viện, trường tạo tri thức, công nghệ và nhân lực; địa phương tổ chức thực thi gắn với lợi thế phát triển.
Từ thực tiễn đào tạo và nghiên cứu, GS.TS Trần Đại Lâm đề xuất đổi mới chương trình theo nhu cầu công nghiệp, tăng đào tạo thực hành và liên ngành giữa vật liệu, hóa học, cơ khí, điện tử, bán dẫn, công nghệ số và trí tuệ nhân tạo. Các nhiệm vụ khoa học, công nghệ cần gắn với chỉ tiêu kỹ thuật, sản phẩm mẫu, lộ trình nâng mức độ sẵn sàng công nghệ và địa chỉ ứng dụng cụ thể.
Ông cũng đề nghị hình thành các phòng thí nghiệm dùng chung, trung tâm nghiên cứu, trung tâm thử nghiệm, thiết kế, chế tạo, đo kiểm và sản xuất thử; thúc đẩy liên kết viện, trường, doanh nghiệp; hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ thông qua tín dụng, quỹ đổi mới công nghệ, hỗ trợ thuế và cơ chế đồng tài trợ cho nghiên cứu, thử nghiệm, sản xuất thử và thương mại hóa.
“Kiến nghị tổng quát là Nhà nước cần chuyển từ hỗ trợ riêng lẻ từng đề tài sang đầu tư theo chương trình sản phẩm và chuỗi giá trị, với các mốc từ nghiên cứu nền tảng, phát triển công nghệ, sản xuất thử đến thương mại hóa”, GS.TS Trần Đại Lâm nêu.
Báo cáo của Cục Công nghiệp, Bộ Công Thương cũng đặt doanh nghiệp ở vị trí trung tâm của quá trình đổi mới sáng tạo, thương mại hóa công nghệ và tổ chức sản xuất. Trong khi đó, viện nghiên cứu, trường đại học đảm nhiệm nghiên cứu, đào tạo, chuyển giao tri thức; khu vực FDI được xác định là kênh quan trọng để kết nối, chuyển giao công nghệ và mở rộng thị trường.
Đưa Kết luận 83-KL/TW vào chương trình, nhiệm vụ cụ thể
Kết luận 83-KL/TW xác định các mốc quan trọng: năm 2026 ban hành Chiến lược quốc gia phát triển công nghiệp vật liệu; năm 2027 hình thành cơ sở dữ liệu quốc gia về ngành vật liệu; đến năm 2028 phấn đấu hình thành từ 3 đến 5 trung tâm nghiên cứu vật liệu quốc gia; đến năm 2030 làm chủ một số công nghệ chế biến sâu đất hiếm, vật liệu bán dẫn, vật liệu pin và phấn đấu tỉ lệ nội địa hóa một số vật liệu chiến lược đạt 50%.
Phát biểu bế mạc, GS.VS Châu Văn Minh - Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam cho rằng, hội thảo thống nhất cao về nhận thức công nghiệp vật liệu phải được nhìn nhận là nền tảng của năng lực công nghiệp, khoa học - công nghệ và tự chủ chiến lược quốc gia. Ông nhấn mạnh yêu cầu thực hiện ba chuyển đổi lớn: “từ lợi thế tài nguyên sang lợi thế công nghệ; từ phát triển theo chiều rộng sang chiều sâu; từ tham gia chuỗi cung ứng sang từng bước làm chủ những công đoạn có giá trị cao”.
Theo GS.VS Châu Văn Minh, điều quan trọng sau hội thảo là chuyển nhận thức thành hành động và sản phẩm cụ thể. Các nhiệm vụ cần được xác định theo hướng rõ cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp, nhiệm vụ, tiến độ, sản phẩm đầu ra và nguồn lực; hạn chế phát sinh thêm những tầng kế hoạch, đề án trung gian nhưng chưa tạo ra kết quả thực chất.
Kết luận 83-KL/TW cũng xác định mô hình hệ sinh thái “Nhà nước kiến tạo - doanh nghiệp trung tâm - viện, trường nền tảng - địa phương là không gian thực thi”, trong đó Nhà nước tập trung hoàn thiện thể chế, đầu tư hạ tầng nghiên cứu chiến lược và tạo môi trường thuận lợi; doanh nghiệp giữ vai trò trung tâm đổi mới sáng tạo, đặt hàng, tiếp nhận và thương mại hóa công nghệ; viện, trường đảm nhiệm nghiên cứu, đào tạo và chuyển giao tri thức; địa phương tổ chức thực hiện phù hợp với quy hoạch và lợi thế phát triển.
GS.VS. Châu Văn Minh cho biết, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam sẽ tiếp tục phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương và các cơ quan liên quan tuyên truyền, phổ biến Kết luận 83-KL/TW tới các hội thành viên; phát huy vai trò tập hợp đội ngũ trí thức, tư vấn, phản biện, kết nối chuyên gia, viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp và cơ quan quản lý.
Việc triển khai Kết luận 83-KL/TW vì vậy được đặt trong yêu cầu chuyển lợi thế tài nguyên thành năng lực công nghệ, đưa kết quả nghiên cứu đến sản xuất, hình thành các chuỗi giá trị vật liệu có giá trị gia tăng cao, đồng thời bảo đảm sử dụng hiệu quả tài nguyên và phát triển bền vững. Mục tiêu cuối cùng là từng bước hình thành năng lực công nghiệp vật liệu quốc gia, góp phần nâng cao khả năng tự chủ, sức cạnh tranh và vị thế của nền kinh tế Việt Nam.
Mai Phương
Link nội dung: https://nhaquanly.vn/phat-trien-cong-nghiep-vat-lieu-theo-huong-lam-chu-cong-nghe-nang-cao-gia-tri-gia-tang-a19528.html