Phát biểu tại hội thảo, TS.BS Tống Trần Hà - Phó Cục trưởng Cục Bà mẹ và Trẻ em cho biết, vị thành niên, thanh niên chiếm hơn 1/4 dân số Việt Nam, là lực lượng đông đảo, năng động, sáng tạo và là chủ nhân tương lai của đất nước. Vì vậy, chăm sóc sức khỏe cho nhóm này, đặc biệt là sức khỏe sinh sản và sức khỏe tình dục, có ý nghĩa quan trọng đối với sức khỏe toàn diện, chất lượng dân số, phát triển nguồn nhân lực và bảo đảm an sinh xã hội.
“Đầu tư cho sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục của thanh thiếu niên hôm nay chính là đầu tư cho chất lượng dân số của Việt Nam trong tương lai”, TS.BS Tống Trần Hà nhấn mạnh.
Thời gian qua, Việt Nam đã xây dựng và từng bước hoàn thiện hành lang chính sách, pháp luật về chăm sóc sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục vị thành niên, thanh niên. Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 25/10/2017 đặt mục tiêu đến năm 2030 giảm 2/3 số vị thành niên, thanh niên có thai ngoài ý muốn và nâng tỷ lệ nam, nữ thanh niên được tư vấn, khám sức khỏe trước khi kết hôn lên 90%. Luật Trẻ em năm 2016 và Luật Thanh niên năm 2020 cũng quy định về quyền được tư vấn, cung cấp thông tin và tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục phù hợp.
Đặc biệt, ngày 22/5/2026, Bộ Y tế ban hành Quyết định số 1482/QĐ-BYT phê duyệt Đề án chăm sóc sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục vị thành niên, thanh niên giai đoạn 2026 - 2030, tạo cơ sở để triển khai đồng bộ các nhiệm vụ trong giai đoạn mới.
Theo BS Trần An Chung - Trưởng phòng Chăm sóc sức khỏe sinh sản, Cục Bà mẹ và Trẻ em, một số chỉ số về sức khỏe sinh sản vị thành niên đã có chuyển biến tích cực. Năm 2025, số trường hợp mang thai ở vị thành niên chiếm khoảng 2,5% tổng số phụ nữ mang thai. Tỷ suất sinh ở vị thành niên giảm từ 34,57‰ năm 2024 xuống 32,27‰ năm 2025; tỷ lệ phá thai ở vị thành niên trên tổng số ca phá thai cũng giảm từ 1,77% xuống 1,43%.
Tuy nhiên, những con số này cho thấy vẫn còn nhiều vấn đề cần giải quyết. Tuổi quan hệ tình dục lần đầu có xu hướng trẻ hóa, trong khi việc sử dụng biện pháp tránh thai ở lần quan hệ đầu tiên còn hạn chế. Bên cạnh nguy cơ mang thai ngoài ý muốn, thanh thiếu niên còn đối mặt với các bệnh lây truyền qua đường tình dục và HIV. Đáng chú ý, nhóm 15 - 29 tuổi chiếm khoảng 50% số ca nhiễm HIV mới.
Khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục thân thiện với vị thành niên, thanh niên cũng còn hạn chế. Theo các chuyên gia, tâm lý e ngại, sợ bị phán xét, lo ngại về tính riêng tư và bảo mật có thể khiến nhiều bạn trẻ không chủ động tìm kiếm thông tin hoặc dịch vụ y tế khi cần thiết.
Từ thực tế này, Đề án đặt mục tiêu đến năm 2030 tỷ suất sinh ở nữ vị thành niên từ 15 - 19 tuổi giảm xuống dưới 18 trẻ đẻ sống/1.000 phụ nữ; tỷ lệ phá thai ở vị thành niên trên tổng số ca phá thai giảm xuống dưới 1%.
Để đạt mục tiêu, một trong những trọng tâm của Đề án là xây dựng hệ thống dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục thân thiện với vị thành niên, thanh niên. Các dịch vụ phải bảo đảm dễ tiếp cận, riêng tư, bảo mật, không kỳ thị, phù hợp lứa tuổi, có chất lượng và liên tục; đồng thời được triển khai linh hoạt tại cơ sở y tế, trường học, cộng đồng, khu công nghiệp và trên các nền tảng số.
Đến năm 2030, ngành Y tế đặt mục tiêu 50% cơ sở y tế công lập từ cấp cơ bản trở lên đạt tiêu chuẩn thân thiện với vị thành niên. Cùng với đó, 85% vị thành niên, thanh niên từ 15-24 tuổi được kỳ vọng có hiểu biết đúng về phòng tránh thai ngoài ý muốn và các bệnh lây truyền qua đường tình dục; 80% nhu cầu tránh thai hiện đại ở phụ nữ 15 - 24 tuổi được đáp ứng.
Đề án cũng đặt mục tiêu 100% trường THCS, THPT và cơ sở giáo dục nghề nghiệp đưa giáo dục giới tính vào chương trình chính khóa hoặc ngoại khóa. Nội dung giáo dục được định hướng phù hợp với từng độ tuổi, bao gồm kiến thức về cơ thể, tuổi dậy thì, giới và bình đẳng giới, kỹ năng tự bảo vệ, phòng tránh thai, tình dục an toàn, HIV và các bệnh lây truyền qua đường tình dục.
Theo TS.BS Tống Trần Hà, việc lấy thanh thiếu niên làm trung tâm là yêu cầu quan trọng trong triển khai Đề án. Các chính sách, chương trình và dịch vụ cần xuất phát từ nhu cầu thực tế của nhóm đối tượng này, đồng thời tạo môi trường để các em có thể tìm kiếm thông tin và hỗ trợ y tế mà không cảm thấy bị kỳ thị hay phán xét.
Bên cạnh hệ thống dịch vụ trực tiếp, công nghệ số được xác định là một kênh quan trọng để tiếp cận thanh thiếu niên. Đề án định hướng xây dựng các kênh tư vấn trực tuyến, cung cấp nội dung ngắn gọn, chính xác, khoa học; đồng thời tăng cường kiểm soát thông tin sai lệch và những nội dung có nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe tình dục, sức khỏe tâm thần và sự phát triển của thanh thiếu niên.
Công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục cũng được xác định là nhiệm vụ cần sự phối hợp của nhiều ngành, nhiều cấp, không chỉ riêng ngành Y tế. Bộ Y tế sẽ phối hợp với ngành Giáo dục, Trung ương Đoàn, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam cùng các địa phương, tổ chức xã hội và tổ chức quốc tế để triển khai các hoạt động phù hợp với từng nhóm đối tượng, trong đó chú trọng thanh niên công nhân, người dân tộc thiểu số và thanh thiếu niên tại vùng sâu, vùng xa.
“Mục tiêu không chỉ để thanh thiếu niên biết về sức khỏe sinh sản mà phải giúp các em hiểu đúng - lựa chọn đúng - hành động đúng - tiếp cận được dịch vụ đúng lúc và được bảo vệ khi cần thiết”, TS.BS Tống Trần Hà nhấn mạnh.
Giai đoạn 2026 - 2030, Đề án hướng tới chuyển mạnh từ cung cấp thông tin đơn thuần sang tạo điều kiện để thanh thiếu niên có kiến thức, kỹ năng và khả năng tiếp cận dịch vụ phù hợp. Qua đó, góp phần giảm mang thai, sinh con và phá thai ở tuổi vị thành niên, phòng ngừa các bệnh lây truyền qua đường tình dục và nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cho nhóm dân số trẻ.
Quỳnh Chi
Link nội dung: https://nhaquanly.vn/giam-mang-thai-pha-thai-o-vi-thanh-nien-nang-cao-chat-luong-dan-so-a19364.html