Tìm lời giải bài toán về vốn cho xã viên hợp tác xã

Tham gia chuỗi giá trị với đầu ra ổn định, các hợp tác xã sẽ dễ dàng tiếp cận vốn tín dụng để mở rộng quy mô sản xuất

(NQL) – Để có vốn sản xuất, nhiều xã viên hợp tác xã (HTX) phải thế chấp nhà cửa cho ngân hàng. Nguồn vốn luôn là bài toán nan giải nhất của họ, bên cạnh đầu ra, công nghệ và quản trị.

Thế chấp nhà cửa

Chị Nguyễn Thị Nga, một trong 15 thành viên của HTX Nông nghiệp và Dịch vụ Nam Yang (Gia Lai), mang ra Hà Nội sản phẩm tiêu sạch thương hiệu Lệ Chí để trưng bày tại Hội chợ xúc tiến thương mại cho các HTX ở Công viên Thống Nhất, Hà Nội. Hội chợ được khai mạc ngay sau Hội thảo Xúc tiến Thương mại, Công nghệ và Thu hút vốn phát triển Hợp tác xã Việt Nam do Liên minh HTX Việt Nam phối hợp cùng Viện Kinh tế Nông nghiệp Hữu cơ tổ chức vào chiều 18.5 tại Hà Nội. Tiêu sạch của chị Nga không khó đế thu hút quan khách và người mua, dù có giá gần gấp đôi so với các loại tiêu sản xuất theo phương thức thông thường.

Theo chị Nga, tiêu sạch của gia đình chị chỉ mới có mặt ở thị trường hai năm nay nhưng đã có được chứng nhận sản phẩm tiêu hữu cơ USDA của Mỹ. “Cả tỉnh Gia Lai mùa rồi chỉ có hai vườn đạt được chứng nhận này. Một lần kiểm tra phải thử gần 200 chất, gửi mẫu qua tận Hà Lan. Vườn tiêu hữu cơ của tôi hoàn toàn không dùng thuốc bảo vệ thực vật, không dùng phân vô cơ. Chúng tôi bón phân hữu cơ và để cỏ mọc tự do, mỗi năm chỉ làm cỏ 2 – 3 lần rồi dùng chính cỏ đó làm phân cho cây tiêu”, chị Nga giải thích.

Xã Nam Yang, huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai, tuy là xã nhỏ nhưng sản lượng tiêu rất lớn. Riêng vườn tiêu hữu cơ nhà chị Nga thôi mỗi năm đã cho sản lượng hơn 10 tấn và được bao tiêu đầu ra hoàn toàn. Chị Nga thừa nhận sản xuất hữu cơ nên sản lượng không cao, chỉ bằng một nửa so với tiêu thường. Mỗi cây tiêu hữu cơ một vụ chỉ cho 2 – 3 ký. “Chi phí trồng cây tiêu hữu cơ cao hơn tiêu thường chút ít, chủ yếu là chi phí cho phân hữu cơ. Chẳng hạn, phân bò là phải mua cho đúng chứ không sẽ trúng phân bò giả”, chị Nga nói.
Để trồng được cây tiêu hữu cơ, cũng như có được đầu ra trước mắt thuận lợi, gia đình chị Nga phải đánh cược với rủi ro: đó là thế chấp tài sản cho ngân hàng mới có đủ vốn sản xuất.

“Không riêng thành viên HTX Nam Yang mới dùng phương án này, mà đa số dân trong vùng hiện nay đều phải thế chấp tài sản để vay vốn trồng tiêu. Ai mà không muốn có nguồn vốn hỗ trợ từ nhà nước, thay vì thế chấp nhà cửa, nhưng tiếp cận nguồn vốn này rất khó. Chưa nói là không thể tiếp cận được nếu không có tài sản thế chấp. Trong khi HTX mới thành lập, rất cần máy móc để phục vụ cho sản xuất. Hiện tại các thành viên HTX cũng chỉ bán hàng theo kiểu đơn giản nhất là đóng gói, dán nhãn thương hiệu rồi bán “sô” (bán chưa qua thành phẩm – PV). Nếu có nguồn vốn hỗ trợ nào đó thì chúng tôi sẵn sàng tiếp cận. HTX đang rất muốn có vốn để xây dựng kho xưởng, đầu tư máy móc sản xuất”, chị Nga giãi bày.

Chị Nga nói thêm, doanh thu bán tiêu hiện nay không thể có đủ vốn để đầu tư lớn được, chỉ đủ tiền để tiếp tục trồng trọt. Nông dân cũng chỉ biết thế chấp nhà cửa, chứ họ không có tài sản gì khác để thế chấp cho ngân hàng; HTX càng không có tài để thế chấp, dù HTX Nam Yang có tới 50 hecta tiêu đang tuổi thu hoạch. Với những nông dân như chị Nga, để giữ vườn tiêu, họ phải vay ngân hàng thì lấy vốn đâu cho đầu tư nhà máy chế biến, sản xuất. Các hộ dân vay đầu tư nông nghiệp nhưng trả lãi giống như các mục đích vay khác. Trong khi đó, chi phí để nuôi một gốc tiêu là rất lớn. Trồng một cây tiêu năm đầu tiên mất khoảng 300.000 đồng, sau hai năm tới thời điểm có trái phải tốn 700.000 đồng, còn phải mua đất đai để trồng trọt mở rộng quy mô.

Sản xuất quy mô từ nhỏ đến lớn

Các thành viên HTX như chị Nga chiếm phần lớn trong hơn 6 triệu hội viên HTX thuộc 20.200 HTX đang hoạt động ở VN hiện nay. Do thiếu vốn nên họ tích lũy vốn dần, sản xuất từ quy mô nhỏ đến lớn. Ông Nguyễn Thành Long, xã Dương Xuân Hội, huyện Châu Thành, tỉnh Long An, thành viên HTX Tầm Vu, là một điển hình như thế. Ông Long bắt đầu trồng thanh long cách đây 10 năm trên diện tích chỉ nửa hecta. Tới nay, ông đã có trong tay 10 hecta thanh long ruột đỏ đang độ thu hoạch và 10 hecta khác đang chuẩn bị trồng. Cứ mỗi hecta cho sản lượng trung bình từ 30 – 35 tấn trái/năm.

Ông Nguyễn Thành Long (trái) của HTX Tầm Vu ký kết thỏa thuận hợp tác với ông Phạm Ngô Quốc Thắng, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc Lavifood

Hiện ông Long tự đóng gói thanh long xuất khẩu sang Trung Quốc. “Tôi là người đầu tiên ở Châu Thành trồng thanh long ruột đỏ. Lúc đầu bán không ai mua, tôi phải ký gửi vào các siêu thị. Cuối cùng mới tìm được đường sang Trung Quốc, nay cũng đã 6 năm. Hiện tôi còn mua thêm thanh long của các nhà vườn, trung bình mỗi tháng 15 container, mỗi công từ 14 – 15 tấn, mỗi tháng mua thêm khoảng 200 tấn”, ông Long nói.

Ông Long thật tình, sau 10 năm trồng thanh long, ông không còn gặp bất kỳ khó khăn nào nữa, kể cả vốn. “Nhưng lúc mới bắt đầu trồng thanh long, chúng tôi rất khó khăn. Nhà vườn nào cũng giống vậy. Chi phí vốn đầu tư mặt bằng sản xuất, tiền mua trụ, hom (gây) giống, công cán, phân bón… ban đầu rất lớn. Gia đình tôi hạn chế vay ngân hàng ở mức thấp nhất và xác định làm nhỏ trước rồi muốn làm lớn thì tính sau. Chứ ai cũng muốn mở rộng quy mô ngay sau khi đã có kinh nghiệm. Nhưng đều bị nghẹt ở nguồn vốn. Giờ doanh thu hằng năm đã ổn định nhờ giá trái thanh long giữ ở mức cao nhiều năm, ngân hàng cũng tìm tới để vận động tôi vay nhưng cũng khó”, bởi ông Long cho rằng, đất đai trong Nam không rộng lắm, manh mún, không thể mở rộng nhanh được. Nhiều hộ chỉ canh tác thanh long trên vài ba công đất, muốn trồng thêm phải thuê hoặc mua.

Châu Thành nổi tiếng với trái thanh long khi 70% đất đai nông nghiệp trồng loại cây ăn trái này. Thanh long được xác định là cây có khả năng giúp nông dân thu hồi vốn nhanh, thu nhập cao gấp 2 – 5 lần trồng lúa. Chính quyền địa phương tạo điều kiện trồng thanh long cho nông dân cũng như mở lớp trồng thanh long sạch xuất khẩu giá cao cho họ. Nhưng để có nguồn vồn rẻ và đa dạng, lại là vấn đề khác, không nằm ở trong tay người nông dân, hợp tác xã, hay chính quyền.

Cam kết vốn cho xã viên

Việc tiếp cận nguồn vốn của các xã viên như chị Nga, ông Long khó khăn, được lý giải ở chỗ cơ bản nhất: đầu ra không đảm bảo. Đó chính là rủi ro khi các ngân hàng xác định cung cấp tín dụng hay không.

Ông Võ Tấn Hoàng Văn, Tổng Giám đốc Ngân hàng SCB, cho biết SCB hiện cung cấp tín dụng cho một số HTX nhưng chưa có HTX nào hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp. Trong thời gian tới, cung cấp vốn cho xã viên nông nghiệp sẽ được triển khai ở SCB. Ông Văn cho hay, trong hợp tác với Liên minh HTX Việt Nam và Viện Kinh tế Nông nghiệp Hữu cơ, sẽ tổ chức mô hình chuỗi giá trị nông sản cho các hợp tác xã, từ vật tư đầu vào, tổ chức sản xuất cho đến khâu chế biến và tiêu thụ (bao tiêu đầu ra). Trong quá trình này, đơn vị bao tiêu đầu ra và hỗ trợ kĩ thuật cho nông dân đóng vai trò rất quan trọng, vì đầu ra là vấn đề quan ngại nhất của ngành nông nghiệp thời gian qua. “Chúng tôi cũng mời một đơn vị bảo hiểm hàng hóa và giá cả để tham gia chương trình đó. Với cách tổ chức như thế, tôi tin là rủi ro cho ngân hàng sẽ rất là hạn chế bởi vì chúng ta đã đảm bảo được đầu ra, tức là nguồn trả nợ cho xã viên. Tôi tin là mô hình này sẽ rất hiệu quả trong thực tế”, ông Văn nhấn mạnh.

Ông Văn khẳng định tiêu chí cho các xã viên về vay vốn là họ phải tham gia chuỗi giá trị. Vì chỉ khi tham gia chuỗi, họ mới được hỗ trợ về kĩ thuật, công nghệ, phân bón, con giống và đầu ra. Hội thảo Xúc tiến Thương mại, Công nghệ và Thu hút vốn phát triển Hợp tác xã Việt Nam do Liên minh HTX Việt Nam phối hợp cùng Viện Kinh tế Nông nghiệp Hữu cơ tổ chức vào chiều 18.5 tại Hà Nội, SCB và Agribank Đài Loan ký kết thỏa thuận hợp tác chương trình hỗ trợ tài chính cho các HTX Việt Nam. Cụ thể, Agribank Đài Loan sẽ hỗ trợ SCB về vốn để cho xã viên HTX vay với lãi suất ưu đãi. Các nhà tài trợ cũng đồng hành với SCB để thành lập một quỹ hỗ trợ cho các xã viên. Quỹ này sẽ là vốn đối ứng và hỗ trợ một phần lãi suất, để giúp nông dân tiếp cận nguồn vốn có lãi suất thấp. Đấy cũng là ý nghĩa của chương trình này.

Nguyễn Tâm